Đang tải dữ liệu...
Thẩm Phán 13 Lớp B (thamphan13) /* Menu Horizontal top*/

Tạo banner chạy dọc hai bên

hinhlop1

hinhlop


Download Hình

Tiện ích bài đăng có ảnh thumbnail chạy ngang

Chuyên đề 7: MỘT SỐ VẤN ĐỀ RÚT KINH NGHIỆM VỀ TỘI XÂM PHẠM TRẬT TỰ QUẢN LÝ KINH TẾ QUA CÔNG TÁC GIÁM ĐỐC THẨM, TÁI THẨM

23:00:00 |
I. KHÁI QUÁT VỀ TỘI XÂM PHẠM TRẬT TỰ QUẢN LÝ KINH TẾ VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHÚ Ý VỀ NHỮNG SỬA ĐỔI, BỔ SUNG
          1. Khái quát chung về tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế
          1.1. Khái niệm:
Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm hại nền kinh tế quốc dân, gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, lợi ích hợp pháp của tổ chức và của công dân qua việc vi phạm qui định của Nhà nước trong quản lý kinh tế.
1.2. Các đặc trưng chung:
- Khách thể của tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế: Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế xâm hại chế độ quản lý, điều hành nền kinh tế Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Xâm phạm quyền và lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
- Mặt khách quan của các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế: Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế thể hiện ở các hành vi cố ý vi phạm các quy định của Nhà nước bằng nhiều loại hành vi khác nhau.
Đa số các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế có cấu thành tội phạm hình thức. Một số tội, hậu quả nghiêm trọng là dấu hiệu bắt buộc. Ví dụ như Điều 165 Bộ luật hình sự (BLHS).
- Chủ thể của các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế: Người thực hiện các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế có thể là bất kỳ ai đạt độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có năng lực trách nhiệm hình sự.
- Mặt chủ quan của các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế: Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế thực hiện với hình thức lỗi cố ý trực tiếp.
1.3. Các tội phạm cụ thể:
1.3.1. Tội buôn lậu (Điều 153 BLHS)
- Dấu hiệu pháp lý: Khách thể của tội phạm này là sự xâm phạm chính sách quản lý nội thương và ngoại thương. Mặt khách quan của tội phạm được đặc trưng bởi các dấu hiệu sau:
+ Hành vi khách quan là hành vi buôn bán hàng hoá qua biên giới quốc gia trái phép.
+ Địa điểm phạm tội qua biên giới quốc gia là dấu hiệu bắt buộc.
+ Đối tượng tác động của tội phạm thuộc 3 nhóm sau: Hàng cấm phải có số lượng lớn hoặc đã bị xử phạt hành chính về một trong các hành vi từ Điều 153 đến Điều 161, hoặc đã bị kết án về một trong những tội này nhưng chưa được xoá án tích (Hàng cấm là đối tượng tác động của Điều 153 trừ các mặt hàng cấm đã quy định thành các tội độc lập như ma tuý, vũ khí quân dụng... vì các loại tài sản này đã được quy định thành các tội danh độc lập); vật phẩm thuộc di tích lịch sử văn hoá; hàng hoá khác phải có giá trị từ 100 triệu đồng trở lên (Nếu dưới 100 triệu đồng thì phải thoả mãn 1 trong 2 điều kiện: Đã bị xử phạt hành chính về 1 trong những hành vi được quy định từ Điều 153 đến Điều 161; hoặc đã bị kết án về một trong những tội này nhưng chưa được xoá án tích).
+ Chủ thể của tội phạm là bất kỳ ai có năng lực trách nhiệm hình sự.
+ Mặt chủ quan của tội phạm lỗi cố ý trực tiếp.
- Hình phạt: Các tình tiết định khung hàng cấm có số lượng lớn, rất lớn, đặc biệt lớn, thu lời bất chính lớn, chưa được hướng dẫn cụ thể, do đối tượng tác động của tội buôn lậu rất rộng, đa dạng. Mới chỉ có hướng dẫn về một số mặt hàng như thuốc lá ngoại, thuốc pháo…
1.3.2. Tội vận chuyển trái phép hàng hoá tiền tệ qua biến giới (Điều 154 BLHS).
Các dấu hiệu pháp lý và các tình tiết định khung giống điều 153 BLHS, chỉ khác điều 153 BLHS, ở hành vi khách quan đó là hành vi vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ qua biến giới.
1.3.3. Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm (Điều 155 BLHS)
- Khách thể của tội phạm là sự xâm phạm chính sách quản lý kinh tế của Nhà nước.
- Chủ thể của tội phạm là bất kỳ ai có năng lực trách nhiệm hình sự.
- Mặt chủ quan của tội phạm là lỗi cố ý trực tiếp.
- Mặt khách quan của tội phạm đặc trưng bởi các dấu hiệu sau: Hành vi khách quan được thực hiện bởi một trong bốn loại hành vi: Hành vi sản xuất hàng cấm; hành vi tàng trữ hàng cấm; hành vi vận chuyển hàng cấm; hành vi buôn bán hàng cấm.
- Đối tượng tác động của tội phạm là hàng cấm có số lượng lớn (trừ các mặt hàng cấm là ma tuý, động vật, thực vật rừng quý hiếm, vũ khí quân dụng...).
Danh mục các mặt hàng cấm theo Nghị định số 11/CP của Chính Phủ ban hành ngày 3/3/1999, đó là: Vật thuộc di tích lịch sử văn hoá; sản phẩm văn hoá phản động đồi truỵ, mê tín dị đoan; thuốc lá điếu sản xuất tại nước ngoài; thuốc chữa bệnh, dụng cụ y học chưa được phép sử dụng tại Việt Nam; đồ chơi trẻ em có hại tới giáo dục, nhân cách, sức khoẻ trẻ em hoặc tới an ninh, trật tự an toàn xã hội; pháo nổ, thuốc pháo.
Theo hướng dẫn tại Công văn số 81/2002 ngày 10/6/2002 của Chánh án TANDTC thì hàng cấm là thuốc lá ngoại: từ 1.500 đến 4.500 bao là số lượng lớn, từ 4.500 đến 13.500 bao là số lượng rất lớn và từ 13.500 bao trở lên là số lượng đặc biệt lớn.
Thông tư 01/96/BNV-VKSNDTC-TANDTC ngày 25/01/1996 hướng dẫn định lượng thuốc pháo và pháo nổ. Nếu hàng cấm có số lượng chưa lớn phải thoả mãn một trong ba điều kiện: Thu lời bất chính lớn; đã bị xử phạt hành chính về một trong những hành vi được quy định từ Điều 153 BLHS đến Điều 161 BLHS; đã bị kết án về một trong những tội này nhưng chưa được xoá án tích.

Chuyên đề 6: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ ÁN PHÍ HÌNH SỰ VÀ ÁN PHÍ DÂN SỰ TRONG VỤ ÁN HÌNH SỰ

22:57:00 |
Vấn đề án phí hình sự và án phí dân sự trong vụ án hình sự đã được quy định cụ thể trong Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án năm 2009 (sau đây gọi tắt là Pháp lệnh) và  Nghị quyết số 01/2012/NQ-HĐTP ngày 13-6-2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về án phí, lệ phí Tòa án (sau đây gọi tắt là Nghị quyết). Tuy nhiên, trong thực tiễn áp dụng, một số nội dung còn có nhiều cách hiểu khác nhau cần phải nghiên cứu, xem xét và thống nhất áp dụng.

I. CHẾ ĐỘ ÁN PHÍ HÌNH SỰ VÀ ÁN PHÍ DÂN SỰ TRONG VỤ ÁN HÌNH SỰ THEO QUY ĐỊNH TẠI PHÁP LỆNH VÀ NGHỊ QUYẾT
1. Các loại án phí trong vụ án hình sự và mức án phí
Theo quy định tại Điều 20 của Pháp lệnh thì án phí trong vụ án hình sự gồm 4 loại:
- Án phí hình sự sơ thẩm;
- Án phí hình sự phúc thẩm;
- Án phí dân sự sơ thẩm đối với trường hợp Tòa án giải quyết cả phần dân sự trong vụ án hình sự, bao gồm án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch (phân biệt án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại trong vụ án hình sự và án phí dân sự sơ thẩm của người có nghĩa vụ cấp dưỡng trong vụ án hình sự có giải quyết vấn đề cấp dưỡng được quy định tại Điều 14 Nghị quyết 01/2012/NQ-HĐTPTANDTC);
- Án phí dân sự phúc thẩm đối với trường hợp có kháng cáo về phần dân sự trong vụ án hình sự.
Về mức án phí: Theo quy định của Pháp lệnh thì mức án phí hình sự sơ thẩm, án phí hình sự phúc thẩm, án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch và án phí dân sự phúc thẩm đối với kháng cáo về phần dân sự trong vụ án hình sự đều chung một mức là 200.000 đồng. Đối với mức án phí dân sự có giá ngạch được chia thành nhiều loại khác nhau tùy thuộc vào giá trị của tài sản Tòa án giải quyết trong vụ án hình sự. Có thể xem bảng về mức án phí sơ thẩm đối với các vụ án về tranh chấp dân sự có giá ngạch sau đây:





Giá trị tài sản có tranh chấp
Mức án phí
a) Từ 4.000.000 đồng trở xuống
200.000 đồng
b) Từ trên 4.000.000 đồng đến 400.000.000 đồng
5% giá trị tài sản có tranh chấp
c) Từ trên 400.000.000 đồng đến 800.000.000 đồng
20.000.000 đồng + 4% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 400.000.000 đồng
d) Từ trên 800.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng
36.000.000 đồng + 3% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 800.000.000 đồng
đ) Từ trên 2.000.000.000 đồng đến 4.000.000.000 đồng
72.000.000 đồng + 2% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 2.000.000.000 đồng
e) Từ trên 4.000.000.000 đồng
112.000.000 đồng + 0,1% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 4.000.000.000 đồng.

2. Nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí trong vụ án hình sự
Theo quy định tại Điều 21 của Pháp lệnh thì: Bị cáo và các đương sự trong vụ án hình sự không phải nộp tiền tạm ứng án phí hình sự sơ thẩm, tiền tạm ứng án phí hình sự phúc thẩm và tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm. Các đương sự trong vụ án hình sự kháng cáo về phần dân sự phải nộp tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm, trừ trường hợp không phải nộp tiền tạm ứng án phí hoặc được miễn nộp tiền tạm ứng án phí theo quy định của Pháp lệnh. Mức tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm bằng mức án phí dân sự phúc thẩm là 200.000 đồng. Thời hạn nộp tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm là 10 ngày kể từ ngày nhận được thông báo của Tòa án cấp sơ thẩm về việc nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm.
Pháp lệnh không quy định rõ nếu bị cáo (có được xác định là đương sự không) kháng cáo phần dân sự sơ thẩm thì có phải đóng tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm không? Nếu bị cáo làm đơn kháng cáo phần dân sự sơ thẩm nhưng không đóng tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm thì Tòa án giải quyết như thế nào? Để giải thích rõ hơn quy định của Pháp lệnh, khoản 1 Điều 8 của Nghị quyết đã quy định các đương sự trong vụ án hình sự bao gồm người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự. Và khoản 2 Điều 8: “Trong mọi trường hợp, bị cáo kháng cáo về phần dân sự trong vụ án hình sự không phải nộp tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm”.

Chuyên đề 5: QUY ĐỊNH VỀ XÉT XỬ ÁN HÌNH SỰ ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN RÚT KINH NGHIỆM

22:53:00 |
I. NHẬN THỨC CHUNG VỀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN VÀ CHÍNH SÁCH HÌNH SỰ ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI
1. Người chưa thành niên và nguyên tắc xác định tuổi người chưa thành niên
Hiện nay, kể cả luật pháp quốc tế và luật pháp Việt Nam chưa đưa ra một khái niệm cụ thể về người chưa thành niên. Trong nhiều văn bản pháp luật Quốc tế về người chưa thành niên và quyền trẻ em cũng như các văn bản pháp luật Việt Nam như Quy tắc của Liên Hợp quốc về bảo vệ người chưa thành niên, Công ước Quốc tế về quyền trẻ em năm 1999, Quy tắc Bắc Kinh (1985), Hướng dẫn Riat (1990), Bộ luật dân sự năm 2005 (Điều 18), Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004... đều chỉ quy định định nghĩa người chưa thành niên theo độ tuổi, cụ thể: “người chưa thành niên là những người dưới 18 tuổi”. Tại các văn bản này, khái niệm người chưa thành niên bao gồm cả khái niệm trẻ em.
1.1. Khái niệm người chưa thành niên phạm tội và tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự
Khái niệm người chưa thành niên và khái niệm người chưa thành niên phạm tội là hai khái niệm không đồng nhất vì theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam thì không phải người chưa thành niên nào cũng trở thành chủ thể của tội phạm.
Theo quy định tại Điều 12 và Điều 68 Bộ luật hình sự thì chỉ người nào từ đủ 14 tuổi trở lên mới có thể phải chịu trách nhiệm hình sự[1]. Như vậy, chúng ta có thể đưa ra khái niệm người chưa thành niên phạm tội như sau: Người chưa thành niên phạm tội là người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 18 tuổi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội là tội phạm được quy định trong Bộ luật Hình sự.
Như vậy, khái niệm người chưa thành niên rộng hơn khái niệm người chưa thành niên phạm tội.
1.2. Nguyên tắc xác định tuổi người chưa thành niên theo Thông tư liên tịch số 01/2011/TTLT/VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH  ngày 12-7-2011 trong các trường hợp cụ thể
Căn cứ Thông tư số 01/2011/TTLT/VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH  ngày 12-7-2011 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội thì tuổi của bị cáo là người chưa thành niên do cơ quan tiến hành tố tụng xác định theo quy định của pháp luật. Trường hợp đã áp dụng các biện pháp hợp pháp mà vẫn không xác định được chính xác ngày, tháng, năm sinh của bị can, bị cáo thì tuổi của họ được xác định như sau:
- Trường hợp xác định được tháng sinh cụ thể nhưng không xác định được ngày thì trong tháng đó lấy ngày cuối cùng của tháng đó làm ngày sinh của bị can, bị cáo.
- Trường hợp xác định được quý cụ thể của năm, nhưng không xác định được ngày tháng nào trong quý đó thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong quý đó làm ngày sinh của bị can, bị cáo;
- Trường hợp xác định được cụ thể nửa đầu năm hay nửa cuối năm, nhưng không xác định được ngày tháng nào trong nửa đầu năm hoặc nửa cuối năm đó thì lấy ngày 30 tháng 6 hoặc ngày 31 tháng 12 tương ứng của năm đó làm ngày sinh của bị can, bị cáo;
- Trường hợp xác định được năm sinh cụ thể nhưng không xác định được ngày tháng sinh của bị can, bị cáo thì lấy ngày 31 tháng 12 của năm đó làm ngày sinh của bị can, bị cáo.
- Trường hợp không xác định được năm sinh của bị can, bị cáo là người chưa thành niên thì phải tiến hành giám định để xác định tuổi của họ
2. Đặc điểm chung của người chưa thành niên và chính sách hình sự của Nhà nước đối với người chưa thành niên phạm tội
2.1. Đặc điểm chung của người chưa thành niên
Người chưa thành niên là người đang trong quá trình phát triển và hoàn thiện về thể chất, tâm sinh lý và nhân cách sống. Người ở độ tuổi này chưa phát triển đầy đủ, toàn diện về thể lực, trí tuệ, tinh thần, nhân cách; có sự hạn chế về kinh nghiệm sống, kiến thức pháp luật, dễ bị tác động, chi phối bởi điều kiện sống; chưa thể nhận thức đầy đủ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà mình thực hiện, khả năng tự kiềm chế chưa tốt. Trong tư duy của người ở độ tuổi này bắt đầu hình thành ý thức độc lập trong việc quyết định cuộc sống riêng của mình, bắt đầu tự độc lập trong hành động, suy nghĩ, ứng xử và thiết lập các mối quan hệ riêng biệt, không muốn nghe theo sự sắp đặt của cha mẹ, nên dễ bị người khác kích động, dụ dỗ, lôi kéo vào việc thực hiện những hành vi trái pháp luật.
2.2. Chính sách hình sự của Nhà nước đối với người chưa thành niên phạm tội
Xuất phát từ đặc điểm tâm - sinh lý của người chưa thành niên, chính sách nhân đạo của Đảng, Nhà nước; trên cơ sở niềm tin vào khả năng cải tạo, giáo dục người chưa thành niên phạm tội giúp họ tích cực cải tạo, sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh để trở thành người có ích cho xã hội. Các nhà làm luật Việt Nam không coi người chưa thành niên phạm tội có năng lực trách nhiệm hình sự như người đã thành niên phạm tội và có chính sách hình sự riêng đối với người chưa thành niên phạm tội, lấy việc vận động, giáo dục người chưa thành niên làm nền tảng. Chính sách đó được thể hiện rõ nét và tập trung nhất tại Điều 69 Bộ luật Hình sự, đó là:

Chuyên đề 4: LUẬT THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ VÀ VĂN BẢN HƯỚNG DẪN THI HÀNH

22:47:00 |
PHẦN THỨ NHẤT:
NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ
         
I. TỔNG QUAN VỀ LUẬT THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ
1. Thực trạng công tác thi hành án hình sự trước khi ban hành Luật Thi hành án hình sự
Thi hành án hình sự liên quan trực tiếp đến bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội; góp phần bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa. Xác định thi hành án hình sự là công tác quan trọng nên Nhà nước ta đặc biệt quan tâm và đã ban hành văn bản quy phạm pháp luật làm cơ sở cho hoạt động này như: Pháp lệnh thi hành án phạt tù năm 1993 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2007; Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009; Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003. Trên cơ sở pháp lý đó, trong thời gian qua hoạt động thi hành án hình sự đã được tổ chức, thực hiện bảo đảm sự nghiêm minh, khoan hồng, nhân đạo, góp phần đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội, phục vụ yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Tuy nhiên, trước yêu cầu mới của thực tiễn, hướng đến mục tiêu xây dựng   Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, pháp luật về thi hành án hình sự đã bộc lộ những hạn chế, không được quy định thống nhất mà nằm rải rác ở nhiều văn bản khác nhau. Điều này gây khó khăn cho thực tiễn thi hành án hình sự. Công tác thi hành án hình sự còn gặp nhiều khó khăn. Báo cáo năm 1994-1995 của Tòa án nhân dân tối cao trước Quốc hội đã thừa nhận có hơn 8.000 người bị án không rõ vì lý do gì vẫn sống ngoài vòng pháp luật, chưa bị bắt đi thụ hình. Như tại thành phố Hồ Chí Minh: năm 1999 số lượng người phải thụ án là 13.875 người, nhưng chỉ giải quyết được 10.691 người, còn 3.184 người phải thụ án chưa giải quyết; năm 2000 có 13.521 người phải thụ án, nhưng chỉ mới giải quyết được 10.767 người, còn 2.754 người phải thụ án chưa bị bắt đi cải tạo ở các trại giam.
Những nguyên nhân chủ yếu làm giảm hiệu quả của hoạt động thi hành án hình sự:
1, Ở giai đoạn đưa bản án ra thi hành còn chậm trễ ở khâu thủ tục giấy tờ hành chính, thiếu sự phối hợp đồng bộ giữa cơ quan xét xử và cơ quan thi hành án. Đây là nguyên nhân chính để tình trạng rất nhiều bị án có án phạt tù vẫn đang còn ở ngoài xã hội, tạo ra mối nghi ngờ của nhân dân về tính công bằng và nghiêm minh của pháp luật, đồng thời tạo ra sự đe dọa mất an ninh và trật tự xã hội.
2, Việc quản lý Nhà nước về thi hành án thiếu tập trung do công tác thi hành án còn ở nhiều cơ quan chức năng khác nhau.Theo quy định của Pháp lệnh Thi hành án phạt tù thì Chính phủ thống nhất quản lý Nhà nước về công tác thi hành án trong phạm vi cả nước. Bộ Công an, Bộ Quốc phòng giúp Chính phủ quản lý công tác thi hành án phạt tù và tổ chức công tác thi hành án phạt tù. Tuy vậy trong thực tế công tác thi hành án theo pháp luật hiện hành còn được giao cho nhiều cơ quan khác nữa cùng tham gia, thực hiện như Tòa án nhân dân, UBND các cấp, cơ quan, tổ chức nơi người bị kết án cư trú, cơ quan y tế thi hành quyết định của Tòa án về bắt buộc chữa bệnh nhưng lại không có một cơ quan chuyên trách nào được giao nhiệm vụ theo dõi, quản lý việc thi hành đó. Do vậy, hiệu lực của các bản án, và quyết định của Tòa án trong thực tế không có tác dụng cao, không kết hợp thi hành án phạt tù với các hình phạt bổ sung khác nên công tác thi hành án và mục đích của hình phạt cũng như các biện pháp tư pháp khác không đạt được kết quả.
3, Việc theo dõi và quản lý phạm nhân còn chồng chéo, kém hiệu quả, trên thực tế đã tồn tại tình trạng là sau khi ra quyết định thi hành án phạt tù, Tòa án hoàn toàn không thể biết rõ được phạm nhân được đưa đi cải tạo ở đâu, bởi vì trên cơ sở tiếp nhận bị án, cơ quan thi hành án của Bộ Công an lập danh sách bị án, ra quyết định đưa họ đi cải tạo tại các trại cải tạo do mình quản lý trên cả nước, đến khi thực hiện thủ tục xét giảm án, tha tù (quy định tại Điều 58, Điều 59, Điều 61 của Bộ luật hình sự 1999) thì về nguyên tắc - theo quy định tại khoản 1, Điều 238 Bộ luật Tố tụng hình sự và Thông tư liên ngành số 04-89/TTLN ngày 15-08-1989 của TATC-VKSTC-BNV việc xét giảm thời hạn thi hành do Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi người bị kết án chấp hành hình phạt tù căn cứ vào hồ sơ đề nghị của Trại quản lý và cải tạo phạm nhân, mà có thể Tòa án, Viện kiểm sát nơi này hoàn toàn không thể biết được bị án này đã chấp hành nghiêm chỉnh các nghĩa vụ khác do Tòa án nơi đã tuyên án hoặc ra quyết định thi hành án, đồng thời luật cũng không có quy định là gửi bản sao quyết định giảm án, tha tù cho các Tòa án, Viện kiểm sát nơi này biết .
4, Thông tư liên ngành số 04-89/TTLN chỉ quy định 02 điều kiện để xét giảm là thời hạn chấp hành hình phạt và đã quyết tâm cải tạo tốt như tích cực hối lỗi, tích cực lao động, học tập, nghiêm chỉnh chấp hành chế độ nội quy của Trại nhưng không quy định một số điều kiện về việc thực hiện trách nhiệm khác trong bản án đã tuyên. Điều này dẫn đến tình trạng là những người được xét giảm án, tha tù trước thời hạn, sau khi ra trại, đã không nghiêm chỉnh thi hành các nghĩa vụ bồi thường thiệt hại, trách nhiệm dân sự trong bản án hình sự, chưa thi hành các hình phạt tiền…, coi như việc mình đi tù đã thay cho việc thực hiện các nghĩa vụ đó, vì thế đã làm cho lòng tin của nhân dân bị suy giảm phần nào.

Chuyên đề 3: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TỘI PHẠM KHỦNG BỐ VÀ TÀI TRỢ KHỦNG BỐ

22:17:00 |
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo Bộ luật hình sự năm 1999, thì tội khủng bố được quy định tại Điều 84 thuộc Chương “Các tội xâm phạm an ninh quốc gia”. Dấu hiệu bắt buộc trong mặt chủ quan của tội phạm là phải có mục đích nhằm chống chính quyền nhân dân. Khách thể của tội phạm chính là việc xâm hại đến sự vững mạnh của chính quyền nhân dân, an ninh đối nội, an ninh đối ngoại, tính mạng, sức khỏe, tự do thân thể của con người.
- Hành vi khách quan của tội phạm này được biểu hiện: Xâm phạm hoặc đe dọa xâm phạm tính mạng, xâm phạm tự do thân thể, sức khoẻ hoặc những hành vi khác uy hiếp tinh thần của con người; đối tượng tác động của tội phạm chỉ có thể là con người cụ thể mà không phải là tài sản hoặc các vật khác và mục đích phải là chống chính quyền nhân dân, nếu không phải nhằm mục đích chống chính quyền nhân dân thì sẽ bị điều tra, truy tố, xét xử theo các tội danh khác tương ứng quy định trong Bộ luật hình sự (BLHS).
Hành vi khủng bố là một trong những loại hành vi đặc biệt nguy hiểm, xâm phạm tính mạng, sức khoẻ của con người và đe dọa nghiêm trọng đến an ninh, trật tự của các quốc gia và cả cộng đồng quốc tế. Tuy nhiên, việc quy định tội danh khủng bố như trên chỉ phù hợp khi mà quan hệ hợp tác của Việt Nam với các nước về phòng, chống khủng bố còn hạn chế. Theo quy định tại Điều 84 BLHS thì đối tượng bị khủng bố gây thiệt hại có thể là tính mạng, sức khỏe, tự do thân thể và tinh thần hoặc sự vững mạnh của chính quyền nhà nước. Song BLHS chỉ có một tội danh về khủng bố là chưa toàn diện, thiếu cơ sở pháp lý để đấu tranh với loại tội phạm này. Thực tế cho thấy, không phải tất cả những trường hợp khủng bố xâm hại đến tính mạng, sức khỏe, tự do thân thể và tinh thần của người khác đều  nhằm chống chính quyền nhân dân, mà có những trường hợp khủng bố để trả thù mang tính cá nhân, gây sự hoảng sợ cho người bị khủng bố như  những trường hợp gửi vòng hoa, gửi quan tài, treo đầu chó, nhắn tin đe dọa, phá hủy, chiếm giữ tài sản… Nếu những hành vi đó lại quy định trong Chương “các tội xâm phạm an ninh quốc gia” là không phù hợp với quan niệm của cộng đồng quốc tế về khủng bố và tội phạm khủng bố nên đã gây nhiều khó khăn cho cơ quan chức năng trong hợp tác quốc tế về phòng, chống khủng bố và cũng rất khó khăn khi xử lý bằng các quy định khác trong BLHS như hành vi khủng bố bằng tin nhắn điện thoại, gửi vòng hoa, quan tài... Chính vì những quy định chưa phù hợp như vậy, nên thời gian qua đã xảy ra một số vụ khủng bố nhằm chống lại Nhà nước Việt Nam, đặc biệt là chống lại các Cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài, kể cả tại thủ đô của một số nước ASEAN. Việt Nam đã yêu cầu các nước xử lý thỏa đáng các vụ khủng bố đó hoặc trao các đối tượng khủng bố để Việt Nam xét xử, song yêu cầu dẫn độ của chúng ta không được đáp ứng thỏa đáng với lý do là quy định về tội danh khủng bố của Việt Nam còn chưa chặt chẽ.
Nhận thức được những bất cập trong các quy định tại Điều 84 BLHS và để phù hợp với quan niệm của cộng đồng quốc tế về khủng bố và tội phạm khủng bố, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2009 đã sửa Điều 84 quy định về “Tội khủng bố” thành “Tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân” vẫn nằm trong Chương XI - Các tội xâm phạm an ninh quốc gia, bổ sung Điều 230a quy định “Tội khủng bố” và Điều 230b quy định “Tội tài trợ khủng bố” nằm trong Chương XIX - Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng. Việc sửa đổi, bổ sung các quy định về trách nhiệm hình sự đối với các hành vi khủng bố của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS đã tạo cơ sở pháp lý phân biệt rõ chỉ có những hành vi khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân mới quy định tại Chương “Xâm phạm an ninh quốc gia” còn lại các hành vi khủng bố khác sẽ xử lý theo tội khủng bố tại chương “Xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng”. Quy định như vậy cũng tạo cơ sở pháp lý cho hợp tác đấu tranh chống khủng bố, khẳng định tính chủ động của Việt Nam trong cuộc chiến chống khủng bố toàn cầu cũng như đáp ứng yêu cầu thực tiễn phòng ngừa, ngăn chặn khủng bố và hợp tác quốc tế về chống khủng bố; đảm bảo sự tương thích với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, đặc biệt là Công ước New York năm 1999 về chống các hành vi tài trợ khủng bố.
Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi sẽ nêu lên những vấn đề chung về tội khủng bố, tài trợ khủng bố, qua đó đề xuất những kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật phòng, chống khủng bố ở nước ta.

Chuyên đề 2: LUẬT PHÒNG CHỐNG MUA BÁN NGƯỜI, THỰC TIỄN XÉT XỬ CÁC TỘI LIÊN QUAN ĐẾN MUA BÁN NGƯỜI

21:41:00 |
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo Bộ luật hình sự năm 1999, thì tội khủng bố được quy định tại Điều 84 thuộc Chương “Các tội xâm phạm an ninh quốc gia”. Dấu hiệu bắt buộc trong mặt chủ quan của tội phạm là phải có mục đích nhằm chống chính quyền nhân dân. Khách thể của tội phạm chính là việc xâm hại đến sự vững mạnh của chính quyền nhân dân, an ninh đối nội, an ninh đối ngoại, tính mạng, sức khỏe, tự do thân thể của con người.
- Hành vi khách quan của tội phạm này được biểu hiện: Xâm phạm hoặc đe dọa xâm phạm tính mạng, xâm phạm tự do thân thể, sức khoẻ hoặc những hành vi khác uy hiếp tinh thần của con người; đối tượng tác động của tội phạm chỉ có thể là con người cụ thể mà không phải là tài sản hoặc các vật khác và mục đích phải là chống chính quyền nhân dân, nếu không phải nhằm mục đích chống chính quyền nhân dân thì sẽ bị điều tra, truy tố, xét xử theo các tội danh khác tương ứng quy định trong Bộ luật hình sự (BLHS).
Hành vi khủng bố là một trong những loại hành vi đặc biệt nguy hiểm, xâm phạm tính mạng, sức khoẻ của con người và đe dọa nghiêm trọng đến an ninh, trật tự của các quốc gia và cả cộng đồng quốc tế. Tuy nhiên, việc quy định tội danh khủng bố như trên chỉ phù hợp khi mà quan hệ hợp tác của Việt Nam với các nước về phòng, chống khủng bố còn hạn chế. Theo quy định tại Điều 84 BLHS thì đối tượng bị khủng bố gây thiệt hại có thể là tính mạng, sức khỏe, tự do thân thể và tinh thần hoặc sự vững mạnh của chính quyền nhà nước. Song BLHS chỉ có một tội danh về khủng bố là chưa toàn diện, thiếu cơ sở pháp lý để đấu tranh với loại tội phạm này. Thực tế cho thấy, không phải tất cả những trường hợp khủng bố xâm hại đến tính mạng, sức khỏe, tự do thân thể và tinh thần của người khác đều  nhằm chống chính quyền nhân dân, mà có những trường hợp khủng bố để trả thù mang tính cá nhân, gây sự hoảng sợ cho người bị khủng bố như  những trường hợp gửi vòng hoa, gửi quan tài, treo đầu chó, nhắn tin đe dọa, phá hủy, chiếm giữ tài sản… Nếu những hành vi đó lại quy định trong Chương “các tội xâm phạm an ninh quốc gia” là không phù hợp với quan niệm của cộng đồng quốc tế về khủng bố và tội phạm khủng bố nên đã gây nhiều khó khăn cho cơ quan chức năng trong hợp tác quốc tế về phòng, chống khủng bố và cũng rất khó khăn khi xử lý bằng các quy định khác trong BLHS như hành vi khủng bố bằng tin nhắn điện thoại, gửi vòng hoa, quan tài... Chính vì những quy định chưa phù hợp như vậy, nên thời gian qua đã xảy ra một số vụ khủng bố nhằm chống lại Nhà nước Việt Nam, đặc biệt là chống lại các Cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài, kể cả tại thủ đô của một số nước ASEAN. Việt Nam đã yêu cầu các nước xử lý thỏa đáng các vụ khủng bố đó hoặc trao các đối tượng khủng bố để Việt Nam xét xử, song yêu cầu dẫn độ của chúng ta không được đáp ứng thỏa đáng với lý do là quy định về tội danh khủng bố của Việt Nam còn chưa chặt chẽ.
Nhận thức được những bất cập trong các quy định tại Điều 84 BLHS và để phù hợp với quan niệm của cộng đồng quốc tế về khủng bố và tội phạm khủng bố, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2009 đã sửa Điều 84 quy định về “Tội khủng bố” thành “Tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân” vẫn nằm trong Chương XI - Các tội xâm phạm an ninh quốc gia, bổ sung Điều 230a quy định “Tội khủng bố” và Điều 230b quy định “Tội tài trợ khủng bố” nằm trong Chương XIX - Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng. Việc sửa đổi, bổ sung các quy định về trách nhiệm hình sự đối với các hành vi khủng bố của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS đã tạo cơ sở pháp lý phân biệt rõ chỉ có những hành vi khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân mới quy định tại Chương “Xâm phạm an ninh quốc gia” còn lại các hành vi khủng bố khác sẽ xử lý theo tội khủng bố tại chương “Xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng”. Quy định như vậy cũng tạo cơ sở pháp lý cho hợp tác đấu tranh chống khủng bố, khẳng định tính chủ động của Việt Nam trong cuộc chiến chống khủng bố toàn cầu cũng như đáp ứng yêu cầu thực tiễn phòng ngừa, ngăn chặn khủng bố và hợp tác quốc tế về chống khủng bố; đảm bảo sự tương thích với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, đặc biệt là Công ước New York năm 1999 về chống các hành vi tài trợ khủng bố.
Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi sẽ nêu lên những vấn đề chung về tội khủng bố, tài trợ khủng bố, qua đó đề xuất những kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật phòng, chống khủng bố ở nước ta.
II. CÁC DẤU HIỆU PHÁP LÝ HÌNH SỰ ĐẶC TRƯNG CỦA TỘI “KHỦNG BỔ” ĐIỀU 230A VÀ TỘI “TÀI TRỢ KHỦNG BỐ” ĐIỀU 230B TRONG LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU BLHS NĂM 2009.
1. Tội khủng bố:
Tại Điều 230a “Tội khủng bố” được quy định như sau:
“1. Người nào nhằm gây ra tình trạng hoảng sợ trong công chúng mà xâm phạm tính mạng của người khác hoặc phá hủy tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình.
2. Phạm tội trong trường hợp xâm phạm tự do thân thể, sức khỏe hoặc chiếm giữ, làm hư hại tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.
3. Phạm tội trong trường hợp đe dọa thực hiện một trong các hành vi quy định tại khoản 1 Điều này hoặc có những hành vi uy hiếp tinh thần, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.
4. Người phạm tội còn có thể bị phạt quản chế, cấm cư trú từ một năm đến năm năm, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.  
Sau khi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều BLHS năm 1999 đã tội phạm hóa hành vi “khủng bố” và hành vi “tài trợ khung bố” thành các tội danh độc lập thì các Cơ quan Nội chính Trung ương đã ban hành Thông tư số 06/2012/TTLT/BCA - BQP - BTP - NHNNVN - VKSNDTC - TANDTC, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao ngày 05/5/2012 hướng dẫn cụ thể và chi tiết về tội khủng bố và tài trợ khủng bố theo đó các dấu hiệu pháp lý của hai tội này được thể hiện như sau:
a. Khách thể của tội khủng bố:
Khách thể loại của tội khủng bố là an toàn công cộng và trật tự công cộng, còn khách thể trực tiếp có thể là xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, tài sản, quyền tự do thân thể và tinh thần của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
b. Về mặt chủ quan: Tội khủng bố được thực hiện với lỗi cố ý; mục đích của người thực hiện hành vi phạm tội là nhằm gây ra tình trạng hoảng sợ trong công chúng. Tình trạng hoảng sợ trong công chúng là trạng thái tâm lý lo lắng của người dân về sự an toàn tính mạng, sức khỏe, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của họ.
Để gây ra tình trạng hoảng sợ trong công chúng, các hành vi khủng bố quy định tại Điều 230a BLHS có thể được thực hiện ở nơi công cộng, nơi tập trung đông người như quảng trường, ngã ba, ngã tư đường giao thông, tại các bến, nhà ga các phương tiện giao thông, trên các phương tiện giao thông, tại trụ sở các cơ quan, tổ chức, tại các nơi vui chơi, giải trí, du lịch, trường học, bệnh viện, khu dân cư, tại các tòa nhà, cơ sở hạ tầng khác mà người dân có thể đến với nhiều mục đích khác nhau. Ví dụ: Hành vi gây nổ ở một khu vực ga xe lửa làm cho người dân lo lắng về sự an toàn tính mạng, sức khỏe, tài sản của họ khi tham gia giao thông trên các phương tiện giao thông công cộng. Hành vi được thực hiện ở những địa điểm có tính biệt lập, không phải nơi công cộng, ví dụ: Tại gia đình hoặc trong trụ sở cơ quan nhưng nhằm gây ra tình trạng hoảng sợ trong công chúng thì cũng bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội khủng bố theo Điều 230a BLHS nếu thỏa mãn các dấu hiệu khác của cấu thành tội phạm này.
c. Mặt khách quan của tội phạm được thể hiện ở những hành vi như:
Hành vi phá hủy tài sản quy định tại khoản 1 Điều 230a BLHS là làm cho tài sản mất hẳn giá trị sử dụng, không thể khôi phục lại được. Chiếm giữ tài sản quy định tại khoản 2 Điều 230a BLHS là hành vi chiếm giữ một cách trái pháp luật tài sản thuộc quyền nắm giữ, quản lý của cá nhân, tổ chức khác; hành vi làm hư hại tài sản quy định tại khoản 2 Điều 230a BLHS là cố ý làm hư hỏng hoặc giảm giá trị sử dụng của tài sản nhưng có thể khôi phục lại được. Hành vi này được thực hiện bằng nhiều hình thức khác nhau như: đốt, đập, phá, dùng thuốc nổ, dùng chất hóa học… Đe dọa phá hủy tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân là hành vi bằng lời nói, gửi tin nhắn, hình ảnh hoặc bằng các hành vi khác làm cho cơ quan, tổ chức, cá nhân biết được và lo sợ rằng tài sản của mình có thể bị phá hủy.
Hành vi khác uy hiếp tinh thần quy định tại khoản 3 Điều 230a là đe dọa xâm phạm tính mạng, sức khỏe, tự do thân thể, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người bị uy hiếp hoặc đe dọa xâm phạm tính mạng, sức khỏe, tự do thân thể, tài sản, danh dự, nhân phẩm của thân nhân người bị uy hiếp hoặc các hành vi khác nhằm làm cho người bị uy hiếp lo sợ, cản trở khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của họ một cách bình thường.
Trường hợp người thực hiện hành vi xâm phạm tính mạng của cán bộ, công chức, công dân, người nước ngoài, nếu gây ra tình trạng hoảng sợ trong công chúng, nhưng có mục đích nhằm chống chính quyền nhân dân thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân theo quy định tại Điều 84 BLHS nếu thỏa mãn các dấu hiệu khác của cấu thành tội phạm này; nếu xâm phạm tính mạng của cán bộ, công chức, công dân, người nước ngoài, gây ra tình trạng hoảng sợ trong công chúng, nhưng có mục đích nhằm chống chính quyền nhân dân và hành vi đó được thực hiện ở vùng rừng núi; vùng biển, vùng hiểm yếu khác thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội hoạt động phỉ theo quy định tại Điều 83 BLHS nếu thỏa mãn các dấu hiệu của cấu thành tội phạm này; nếu xâm phạm tính mạng của cán bộ, công chức, công dân, người nước ngoài, gây ra tình trạng hoảng sợ trong công chúng, nhưng có mục đích nhằm chống chính quyền nhân dân thông qua hoạt động vũ trang hoặc dùng bạo lực có tổ chức thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội bạo loạn quy định tại Điều 82 BLHS nếu thỏa mãn các dấu hiệu của cấu thành tội phạm này.
Trường hợp người thực hiện một trong các hành vi xâm phạm tính mạng, đe dọa xâm phạm tính mạng, uy hiếp tinh thần; xâm phạm tự do thân thể, sức khỏe của người khác, nhưng không nhằm gây sự hoảng sợ trong công chúng, không nhằm chống chính quyền nhân dân thì tùy trường hợp cụ thể, người thực hiện hành vi vi phạm sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm tương ứng như tội giết người quy định tại Điều 93 BLHS, tội đe dọa giết người quy định tại Điều 103 BLHS, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác quy định tại Điều 104 BLHS, tội bắt giữ hoặc giam giữ người trái pháp luật quy định tại Điều 123 BLHS …nếu thỏa mãn các dấu hiệu của cấu thành tội phạm tương ứng.
 Trường hợp người thực hiện hành vi phá hoại, nếu nhằm gây ra tình trạng hoảng sợ trong công chúng, nhưng có mục đích nhằm chống chính quyền nhân dân thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội gián điệp theo quy định tại Điều 80 BLHS nếu thỏa mãn các dấu hiệu khác của cấu thành tội phạm này. Trường hợp người thực hiện hành vi phá hủy tài sản, nếu nhằm gây ra tình trạng hoảng sợ trong công chúng, nhưng có mục đích nhằm chống chính quyền nhân dân và tài sản bị phá hủy là cơ sở vật chất - kỹ thuật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong các lĩnh vực chính trị, an ninh, quốc phòng, kinh tế, khoa học - kỹ thuật, văn hóa, xã hội thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phá hoại cơ sở vật chất - kỹ thuật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo quy định tại Điều 85 BLHS nếu thỏa mãn các dấu hiệu khác của cấu thành tội phạm này; nếu phá hủy tài sản, nhằm gây ra tình trạng hoảng sợ trong công chúng, không có mục đích nhằm chống chính quyền nhân dân, nhưng tài sản đó là công trình hoặc phương tiện giao thông vận tải, thông tin - liên lạc, công trình điện, dẫn chất đốt, công trình thủy lợi hoặc công trình quan trọng khác về an ninh, quốc phòng, kinh tế, khoa học - kỹ thuật, văn hóa và xã hội, hoặc tài sản là vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự thì vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội khủng bố theo quy định tại Điều 230a BLHS nếu thỏa mãn các dấu hiệu khác của cấu thành tội phạm này.
 Trường hợp nhằm gây ra tình trạng hoảng sợ trong công chúng mà thực hiện hành vi chiếm đoạt tàu bay, tàu thủy thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội khủng bố theo quy định tại Điều 230a BLHS nếu thỏa mãn các dấu hiệu khác của cấu thành tội phạm này. Nếu chiếm đoạt tàu bay, tàu thủy nhưng không có mục đích nhằm gây ra tình trạng hoảng sợ trong công chúng thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội chiếm đoạt tàu bay, tàu thủy theo quy định tại Điều 221 BLHS nếu thỏa mãn các dấu hiệu khác của cấu thành tội phạm này. Trường hợp người thực hiện một trong các hành vi chiếm giữ tài sản, làm hư hại tài sản, nếu không nhằm gây ra tình trạng hoảng sợ trong công chúng thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội chiếm giữ trái phép tài sản theo quy định tại Điều 141 BLHS hoặc tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản quy định tại Điều 143 BLHS nếu thỏa mãn các dấu hiệu khác của cấu thành tội phạm đó.
 Trường hợp nhằm gây ra tình trạng hoảng sợ trong công chúng mà bịa đặt, cố ý loan truyền thông tin giả về khủng bố (ví dụ bịa đặt, cố ý loan truyền tin giả có chất nổ, bom trên tàu bay, tàu hỏa, về dịch bệnh nguy hiểm…) thì không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội khủng bố theo Điều 230a BLHS mà tùy từng trường hợp cụ thể sẽ bị xử lý theo quy định khác của pháp luật.
d. Chủ thể của tội phạm:
Người phạm tội có thể là công dân Việt Nam, công dân nước ngoài hay người không có quốc tịch, có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi nhất định.
đ. Hình phạt:
Điều 230a quy định ba khung hình phạt:
Khung 1: Quy định hình phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm, chung thân hoặc tử hình áp dụng đối với trường hợp xâm phạm tính mạng của người khác hoặc phá hủy tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Khung 2: Quy định hình phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm áp dụng đối với trường hợp xâm phạm tự do thân thể, sức khỏe hoặc chiếm giữ, làm hư hại tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Khung 3: Quy định hình phạt tù từ hai năm đến bảy năm áp dụng trong trường hợp đe dọa thực hiện một trong các hành vi quy định tại khoản 1 điều này.
Hình phạt bổ sung: Người phạm tội còn có thể bị phạt quản chế, cấm cư trú từ một năm đến năm năm, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
2. Tội tài trợ khủng bố:
Tại Điều 230b “Tội tài trợ khủng bố” được quy định như sau:
“1. Người nào huy động, hỗ trợ tiền, tài sản dưới bất kỳ hình thức nào cho tổ chức, cá nhân khủng bố, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười năm.
2. Người phạm tội còn có thể bị phạt quản chế, cấm cư trú từ một năm đến năm năm, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
Tài trợ khủng bố là hành vi huy động, hỗ trợ tiền, tài sản cho tổ chức, cá nhân khủng bố có những dấu hiệu pháp lý đặc trưng sau:
a. Khách thể của tội phạm:
Cũng tương tự như đối với tội khủng bố, khách thể loại của tội tài trợ khủng bố là an toàn công cộng và trật tự công cộng, còn khách thể trực tiếp cũng có thể là tính mạng, sức khỏe, tài sản, quyền tự do thân thể và tinh thần của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Đối tượng tác động của tội phạm này là tiền hoặc tài sản mà người phạm tội tài trợ cho tổ chức, cá nhân khủng bố; thông qua những đồng tiền hoặc tài sản mà người phạm tội tài trợ cho tổ chức, cá nhân khủng bố xâm phạm đến an toàn công cộng và trật tự công cộng hoặc gián tiếp xâm phạm tính mạng, sức khỏe, tài sản, quyền tự do thân thể và tinh thần của cơ quan, tổ chức, cá nhân con người và tài sản.
b. Mặt chủ quan:
Hành vi phạm tội tài trợ khủng bố được thực hiện với lỗi cố ý;
c. Mặt khách quan của tội phạm:
Mặt khách quan của tội tài trợ khủng bố được biểu hiện ở hành vi huy động, hỗ trợ tiền, tài sản dưới bất kỳ hình thức nào cho tổ chức, cá nhân khủng bố. Hành vi huy động, hỗ trợ tiền, tài sản được thực hiện dưới các hình thức tặng, cho, cho vay, mượn tiền, tài sản, lợi ích vật chất khác hoặc dưới bất kỳ hình thức nào bao gồm cả việc vận động, kêu gọi, hỗ trợ cung cấp tiền, tài sản cho tổ chức khủng bố hoặc cá nhân khủng bố.
 Tài sản bao gồm: vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản, bất động sản, động sản, hoa lợi, lợi tức, vật chính, vật phụ, vật chia được, vật không chia được, vật tiêu hao, vật không tiêu hao, vật cùng loại, vật đặc định, vật đồng bộ và quyền tài sản.
 Huy động, hỗ trợ tiền, tài sản quy định tại khoản 1 Điều 230b BLHS phải không nhằm giúp sức cho việc thực hiện các hành vi khủng bố cụ thể mới cấu thành tội tài trợ khủng bố. Trường hợp huy động, hỗ trợ tiền, tài sản cho tổ chức, cá nhân khủng bố nhằm giúp sức cho việc chuẩn bị thực hiện hoặc thực hiện một hoặc một số vụ khủng bố cụ thể thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân quy định tại Điều 84 BLHS hoặc tội khủng bố quy định tại Điều 230a BLHS với vai trò là đồng phạm nếu thỏa mãn các dấu hiệu khác của cấu thành tội phạm đó. Nếu không biết trước, mà huy động, hỗ trợ tiền, tài sản để giúp cá nhân khủng bố bỏ trốn sau khi thực hiện hành vi phạm tội thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội che dấu tội phạm quy định tại Điều 313 BLHS nếu thỏa mãn các dấu hiệu khác của cấu thành tội phạm này.
d. Chủ thể của tội phạm: Chủ thể của tội phạm này cũng giống như chủ thể ở tội khủng bố đó là:
Người phạm tội có thể là công dân Việt Nam, công dân nước ngoài hay người không có quốc tịch, có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi nhất định.
đ. Hình phạt:
Điều luật quy định một khung hình phạt với mức hình phạt từ năm năm đến mười năm. Áp dụng trong khung cấu thành cơ bản.
Hình phạt bổ sung: Người phạm tội còn có thể bị quản chế, cấm cư trú một năm đến năm năm, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
III. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VƯỚNG MẮC THEO QUY ĐỊNH TẠI ĐIỀU 230A, 230B VÀ KIẾN NGHỊ
Cho tới nay, tại Việt Nam cũng chỉ có số ít vụ án khủng bố chống chính quyền nhân dân được đưa ra xét xử, điển hình như năm 1985 tại tỉnh Hà Bắc cũ có vụ án Nguyễn Văn Điểm Giám đốc Công ty Ngoại thương huyện Lạng Giang đã có hành vi thuê người ném lựu đạn vào nhà đồng chí Mai Thúc Lân Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Bắc nhằm đe dọa chống lại chủ trương thanh tra Công ty của Điểm do đồng chí Chủ tịch chỉ đạo. Còn tội khủng bố hay tài trợ khủng bố như quy định hiện hành chưa có vụ nào phải đưa ra xét xử (vì mới được bổ sung vào BLHS năm 2009). Song qua nghiên cứu quy định tại các Điều 84 BLHS “Tội khủng bố chống chính quyền nhân dân”, Điều 230a BLHS “Tội khủng bố”, Điều 230b BLHS “Tội tài trợ khủng bố” và Thông tư số 06/2012/TTLT/BCA - BQP - BTP -NHNNVN - VKSNDTC - TANDTC, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao ngày 05/5/2012 hướng dẫn cụ thể và chi tiết về tội khủng bố và tài trợ khủng bố, chúng tôi thấy có một số vướng mắc sau:
Thứ nhất: Dấu hiệu đặc trưng để phân biệt giữa tội “khủng bố chống chính quyền nhân dân” và tội “khủng bố” chính là mục đích của tội phạm. Đối với quy định tại Điều 84 BLHS thì mục đích chính là chống chính quyền nhân dân còn đối với Điều 230a BLHS thì mục đích là nhằm gây ra tình trạng hoảng sợ trong công chúng. Song tại Thông tư số 06 có hướng dẫn “…Trường hợp nhằm gây ra tình trạng hoảng sợ trong công chúng mà thực hiện hành vi chiếm đoạt tàu bay, tàu thủy thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội khủng bố theo quy định tại Điều 230a Bộ luật hình sự nếu thỏa mãn các dấu hiệu khác của cấu thành tội phạm này”. Nếu trường hợp người nào đó, có hành vi chiếm đoạt tàu bay, tàu thủy với mục đích nhằm chống lại chính quyền nhân dân thì xử lý theo điều luật nào? Điều 84 BLHS không có quy định về hành vi chiếm đoạt, chiếm giữ!
Một vấn đề nữa là theo quy định của pháp luật một số nước trên thế giới và quy định tại các Công ước quốc tế về chống khủng bố thì hành vi khủng bố được thực hiện nhằm ba mục đích: Một là, gây hoảng loạn trong công chúng; Hai là, ép buộc chính quyền làm hoặc không làm một việc nhất định theo yêu cầu của bọn khủng bố; Ba là, ép buộc tổ chức quốc tế làm hoặc không làm công việc nhất định theo yêu cầu của những kẻ khủng bố. Song hiện tội khủng bố theo quy định tại Điều 230a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 1999 mới chỉ ghi nhận một mục đích của hành vi khủng bố, đó là hành vi gây hoảng loạn trong công chúng, còn mục đích thứ hai là ép buộc chính quyền làm hoặc không làm một việc nhất định theo yêu cầu của bọn khủng bố có thể xử lý theo Điều 84 BLHS, song còn mục đích thứ ba là  “ép buộc tổ chức quốc tế làm hoặc không làm công việc nhất định theo yêu cầu của những kẻ khủng bố” không biết xử lý theo điều luật nào?
Thứ hai: Về hành vi xâm phạm tính mạng của người khác và hành vi phá hủy tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định tại khoản 1 Điều 230a, hiện quy định rất chung chung, không cụ thể rất khó vận dụng khi quyết định hình phạt. Có được hiểu hành vi xâm phạm tính mạng của người khác  tương tự như đối với hành vi giết người không? Trường hợp nào thì xử mười năm, trường hợp nào thì xử hai mươi năm, chung thân hoặc tử hình. Hành vi phá hủy tài sản đến mức độ nào thì áp dụng các mức hình phạt tương ứng theo quy định tại khoản 1 của điều luật.
Về hành vi xâm phạm sức khỏe quy định tại khoản 2 điều luật cũng vậy có được áp dụng tương tự như đối với hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác quy định tại Điều 104 BLHS không ? Có cần phải căn cứ vào tỷ lệ thương tật để truy cứu trách nhiệm hình sự không ? Hiện theo chúng tôi hiểu, thì quy định đối với tội khủng bố, người phạm tội xâm phạm đến sức khỏe của người khác không nhất thiết phải gây ra thương tích hay gây tổn hại cho sức khỏe của người khác có tỷ lệ thương tật từ 11% trở lên, mà có thể chỉ gây ra thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của cá nhân dưới 11% cũng được coi là hành vi xâm phạm sức khỏe. Theo chúng tôi, nếu không quy định tỷ lệ thương tật để làm căn cứ xử lý thì sẽ dẫn đến tình trạng áp dụng tùy tiện, không bảo đảm nguyên tắc công bằng.
Thứ ba: Đối với Điều 230b BLHS “Tội tài trợ khủng bố”, tại khoản  1 cũng không hề quy định về định lượng là không hợp lý mà cần có quy định về định lượng tối thiểu và tối đa trong cấu thành cơ bản để làm căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự cũng như làm căn cứ để quyết định khung hình phạt. Quy định như vậy không bảo đảm tính khả thi vì không lẽ một người nào đó tài trợ khủng bố 10.000đ cũng bị bỏ tù.
Thứ tư: Rất khó đánh giá về động cơ mục đích của người phạm tội trong tội tài trợ khủng bố và rất dễ nhầm lẫn về tội danh giữa tội tài trợ khủng bố với các tội phạm khác; giữa tội tài trợ khủng bố với tội “khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân” với vai trò giúp sức quy định tại Điều 84 BLHS.
Việc Luật sửa đổi, bổ sung một số điều BLHS năm 1999 đã tội phạm hóa hành vi “khủng bố” và hành vi “tài trợ khung bố” thành hai điều luật trong BLHS là hết sức cần thiết trong việc hợp tác chống khủng bố quốc tế hiện nay. Song để các quy định của luật đi vào cuộc sống và được thực thi một cách công bằng và nghiêm minh cũng như có đường lối áp dụng thống nhất, chúng tôi kiến nghị các Cơ quan thẩm quyền cần sớm có văn bản hướng dẫn cụ thể hơn trong việc lượng hóa mức độ thiệt hại cũng như định lượng cụ thể trong nội dung của hai điều luật để có cơ sở áp dụng một cách thống nhất.
Theo chúng tôi, có thể áp dụng tương tự về hậu quả do hành vi phạm tội gây ra như các quy định về tội giết người theo điều 93 BLHS đối với hành vi xâm phạm tính mạng và theo Điều 104 BLHS đối với những hành vi xâm phạm thân thể. Về mức độ thiệt hại do hành vi phá hủy tài sản thì áp dụng tương tự những hướng dẫn đối với các tội xâm phạm sở hữu. Còn hành vi tài trợ khủng bố cũng cần có quy định mức tối thiểu có thể từ hai mươi triệu là căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự.
Cần có hướng dẫn cụ thể về xác định động cơ mục đích của người tài trợ khủng bố, trong trường hợp nào thì truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 230b BLHS, trường hợp nào thì truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 84 BLHS hoặc 230a BLHS với vai trò đồng phạm giúp sức. Nếu theo quy định hiện hành thì phải chăng chúng ta không cần xem xét tới động cơ, mục đích của người tài trợ khủng bố.

Bộ luật hình sự cần tiếp tục sửa đổi theo hướng ghi nhận mục đích “ép buộc tổ chức quốc tế làm hoặc không làm công việc nhất định theo yêu cầu của những kẻ khủng bố” vào tội khủng bố quy định tại Điều 230a BLHS, như vậy sẽ phù hợp với pháp luật quốc tế, pháp luật các nước trên thế giới đồng thời ghi nhận hết các dấu hiệu cấu thành tội khủng bố tại Điều 230a Bộ luật hình sự.

Chuyên đề 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TỘI PHẠM CÔNG NGHỆ THÔNG TIN, VIỄN THÔNG VÀ THỰC TIỄN XÉT XỬ

21:23:00 |
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Bộ Luật Hình sự (BLHS) năm 1999 của nước ta đã có 3 điều luật liên quan đến lĩnh vực công nghệ thông tin (điều 224, 225, 226). Tuy nhiên, Tội phạm công nghệ cao lại chỉ xuất hiện “rầm rộ” khoảng 3 đến 4 năm trở lại đây và ngày càng có chiều hướng gia tăng. Nếu như năm 2011 ngành Công an phát hiện và điều tra xử lý 128 vụ việc, gây thiệt hại 58 tỷ đồng, hơn 1 triệu đô la Mỹ, thu giữ 12 tỷ đồng và 235.000 đôla Mỹ thì trong 6 tháng đầu năm 2012 đã phát hiện và xử lý 111 vụ, 232 đối tượng. Tính chất nguy hiểm của loại tội phạm này là mối đe dọa của an ninh chính trị. Nhiều quốc gia trên thế giới cũng đã phát hiện nhiều thông tin mật, nhạy cảm đã bị đánh cắp và nhiều hệ thống thông tin trọng yếu đã bị tấn công hủy diệt, bởi những tác nhân bên ngoài và bị sử dụng để tấn công phá hoại hệ thống cơ sở hạ tầng trọng yếu có liên quan.
Trước sự gia tăng của loại tội phạm này, mà các quy định tại ba điều luật trên lại không bao quát hết mọi hành vi phạm tội thực hiện thông qua sử dụng công nghệ thông tin, nhất là các hành vi phạm tội công nghệ cao đang xảy ra một cách phổ biến mà hành lang pháp luật liên quan đến vấn đề này vẫn còn thiếu cũng là nguyên nhân chính khiến nhiều cơ quan tố tụng phải lúng túng khi xử lý những vụ việc này. Để đấu tranh có hiệu quả với loại tội phạm này, trên cơ sở dự báo các hành vi phạm tội liên quan đến lĩnh vực công nghệ thông tin, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của BLHS được Quốc hội thông qua ngày 19/6/2009 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2010 đã sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS tập trung vào việc tiếp tục hoàn thiện quy định tại các Điều 224, 225, 226 và bổ sung thêm 2 tội mới trong lĩnh vực công nghệ thông tin. Đó là:
Tội truy cập bất hợp pháp vào mạng viễn thông, mạng máy tính, mạng Internet hoặc thiết bị số của người khác (Điều 226a BLHS) và Tội sử dụng mạng viễn thông, mạng máy tính, mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản (Điều 226b BLHS). Có thể thấy đây chính là những cố gắng của các cơ quan chức năng nhằm tạo ra hành lang pháp lý ngăn chặn các nguy cơ cao từ lĩnh vực tội phạm công nghệ thông tin. Đặc biệt Điều 224, 225 và 226 BLHS đã có sửa đổi cơ bản về tên gọi cũng như những hành vi khách quan trong cấu thành tội phạm của những điều luật này. Trong thời gian gần đây, liên ngành Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp, Bộ thông tin và truyền thông, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành thông tư liên tịch số 10/2012/TTLT-BCA-BQP-BTT&TT-VKSNDTC-TANDTC ngày 10/9/2012 hướng dẫn áp dụng quy định của Bộ luật hình sự về một số tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin và viễn thông. Đây là những quy định hoàn toàn mới, do đó trong chuyên đề này chúng tôi mong muốn góp phần phân tích điều luật để hiểu và áp dụng đúng các quy định của Bộ luật hình sự, Thông tư hướng dẫn nêu trên về tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin. Đồng thời nêu lên một số vướng mắc có thể gặp phải khi áp dụng những quy định này.
II. CÁC QUY ĐỊNH MỚI CỦA LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ ĐỐI VỚI TỘI PHẠM TRONG LĨNH VỰC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ VIỄN THÔNG
1. Các quy định mới của luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự trong các Điều 224, 225, 226.
Thứ nhất: Về tên gọi của điều luật. Đối với ba tội danh đã được quy định trong BLHS năm 1999, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2009 đã bổ xung một số hành vi vào các Điều luật này thể hiện như sau:
- Tội tạo ra và lan truyền, phát tán các chương trình vi rút tin học (Điều 224 BLHS) được sửa tên điều luật thành “Tội phát tán vi rút, chương trình tin học có tính năng gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet, thiết bị số”.
- Tội vi phạm các quy định về vận hành, khai thác và sử dụng mạng máy tính điện tử (Điều 225 BLHS) được sửa tên điều luật thành “Tội cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet, thiết bị số”.
- Tội sử dụng trái phép thông tin trên mạng và trong máy tính (Điều 226 BLHS) được sửa tên luật thành “Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin trên mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet”.
Thứ hai: Một số quy định bổ sung vào các điều luật trên.
Việc sửa đổi ba điều luật nêu trên đều theo hướng thiết kế điều luật cụ thể hơn, rõ ràng hơn, đưa thêm một số hành vi vào ngay tên gọi của các điều luật như: Theo Điều 224 “Tội tạo ra và lan truyền, phát tán các chương trình vi rút tin học” chỉ có quy định hành vi tạo ra và lan truyền, phát tán các chương trình vi rút tin học một cách chung nhất, thì Luật sửa đổi đã bổ sung thêm một cách cụ thể và quy định rõ về “tính năng gây hại” cho cả mạng viễn thông, mạng Internet, thiết bị số. Điều 225 quy định hành vi vi phạm các quy định về vận hành, khai thác và sử dụng mạng máy tính điện tử. Luật sửa đổi, bổ sung đã sửa đổi, thay theo hướng cụ thể và mở rộng hơn, trong đó thay thế cụm từ “khai thác”, “sử dụng” bằng cụm từ “cản trở” hoặc “gây rối” không chỉ đối với mạng máy tính mà còn cả đối với  mạng viễn thông, mạng Internet, thiết bị số. Tương tự như vậy, tại Điều 226 cũng được bổ sung thêm hành vi sử dụng trái phép thông tin trên mạng viễn thông, mạng Internet.
Ngoài ra, Luật sửa đổi, bổ sung cũng đưa thêm vào cấu thành tăng nặng một số tình tiết định khung như "có tổ chức", "tái phạm nguy hiểm", "đối với hệ thống dữ liệu thuộc bí mật nhà nước; hệ thống thông tin phục vụ an ninh, quốc phòng" (khoản 2 và 3 Điều 224); "Lợi dụng quyền quản trị mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet”, "Đối với hệ thống dữ liệu thuộc bí mật nhà nước, hệ thống thông tin phục vụ an ninh quốc phòng", "Đối với cơ sở hạ tầng thông tin quốc gia; hệ thống thông tin điều hành lưới điện quốc gia; hệ thống thông tin tài chính, ngân hàng, hệ thống thông tin điều khiển giao thông” (khoản 2 và 3 Điều 225); "lợi dụng quyền quản trị mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet”, "thu lợi bất chính từ một trăm triệu đồng trở lên" (Điều 226).
Cả ba điều luật này đều được sửa đổi theo hướng tăng nặng hình phạt tiền từ “năm triệu đồng đến một trăm triệu đồng" lên từ “hai mươi triệu đồng đến hai trăm triệu đồng” (khoản 1 Điều 224, và 225) và từ “năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng” lên "từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng" (khoản 1 Điều 226 BLHS).
Hình phạt tiền là hình phạt bổ sung của Điều 224 và 225 không có sự sửa đổi so với luật cũ, nhưng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung của Điều 226 đã nâng từ "ba triệu đồng đến ba mươi triệu đồng" lên "từ hai mươi triệu đồng đến hai trăm triệu đồng".
Thứ ba: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 2009 đã tội phạm hóa một số hành vi thành các tội độc lập quy định tại Điều 226a và 226b cụ thể:
Điều 226a. Tội truy cập bất hợp pháp vào mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số của người khác.1. Người nào cố ý vượt qua cảnh báo, mã truy cập, tường lửa, sử dụng quyền quản trị của người khác hoặc bằng phương thức khác truy cập bất hợp pháp vào mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số của người khác chiếm quyền điều khiển; can thiệp vào chức năng hoạt động của thiết bị số; lấy cắp, thay đổi, hủy hoại, làm giả dữ liệu hoặc sử dụng trái phép các dịch vụ, thì bị phạt tiền từ hai mươi triệu đồng đến hai trăm triệu đồng hoặc phạt tù từ một năm đến năm năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến bảy năm:
a) Có tổ chức;
b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
c) Thu lợi bất chính lớn;
d) Gây hậu quả nghiêm trọng;
đ) Tái phạm nguy hiểm.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười hai năm:
a) Đối với hệ thống dữ liệu thuộc bí mật nhà nước; hệ thống thông tin phục vụ an ninh, quốc phòng;
b) Đối với cơ sở hạ tầng thông tin quốc gia; hệ thống thông tin điều hành lưới điện quốc gia; hệ thống thông tin tài chính, ngân hàng; hệ thống thông tin điều khiển giao thông;
c) Thu lợi bất chính rất lớn hoặc đặc biệt lớn;
d) Gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.
4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.
Điều 226b. Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản.
1. Người nào sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện một trong những hành vi sau đây, thì bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng hoặc phạt tù từ một năm đến năm năm:
a) Sử dụng thông tin về tài khoản, thẻ ngân hàng của cơ quan, tổ chức, cá nhân để chiếm đoạt hoặc làm giả thẻ ngân hàng nhằm chiếm đoạt tài sản của chủ thẻ hoặc thanh toán hàng hóa, dịch vụ;
b) Truy cập bất hợp pháp vào tài khoản của cơ quan, tổ chức, cá nhân nhằm chiếm đoạt tài sản;
c) Lừa đảo trong thương mại điện tử, kinh doanh tiền tệ, huy động vốn tín dụng, mua bán và thanh toán cổ phiếu qua mạng nhằm chiếm đoạt tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân;
d) Hành vi khác nhằm chiếm đoạt tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến bảy năm:
a) Có tổ chức;
b) Phạm tội nhiều lần;
c) Có tính chất chuyên nghiệp;
d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;
đ) Gây hậu quả nghiêm trọng;
e) Tái phạm nguy hiểm.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:
a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;
b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:
a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;
b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

2. Văn bản hướng dẫn áp dụng quy định của Bộ luật hình sự về một số tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin và viễn thông
Để áp dụng một cách thống nhất các quy định của Luật sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự năm 2009 đối với các tội phạm về công nghệ thông tin, đặc biệt là đối với các hành vi mới được tội phạm hóa thành hai tội độc lập quy định tại Điều 226a và 226b, Liên bộ Bộ Công an - Bộ quốc phòng -Bộ Tư Pháp - Bộ Thông tin và truyền thông - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Thông tư liên tịch số 10//2012/ TTLT-BCA-BQP-BTP-BTT&TT-VKSNDTC-TANDTC, ngày 10/09/2012 hướng dẫn áp dụng quy định của Bộ luật hình sự về một số tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin và viễn thông.
Để việc áp dụng pháp luật được thống nhất, Thông tư liên tịch đã giải thích cụ thể các từ ngữ liên quan đến tội phạm công nghệ thông tin đó là:
1. Chương trình tin học có tính năng gây hại là chương trình tự động hóa xử lý thông tin, gây ra hoạt động không bình thường cho thiết bị số hoặc sao chép, sửa đổi, xóa bỏ thông tin lưu trữ trong thiết bị số.
2. Dữ liệu thiết bị số là hệ điều hành, phần mềm ứng dụng, thông tin chứa trong thiết bị số.
3. Mạng máy tính là tập hợp nhiều máy tính kết nối với nhau, có thể chia sẻ dữ liệu cho nhau.
4. Thông tin riêng hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân là những thông tin thuộc sở hữu của cơ quan, tổ chức, cá nhân được pháp luật bảo vệ.
5. Thương mại điện tử là việc tiến hành một khâu hoặc toàn bộ quy trình của hoạt động thương mại bằng phương tiện điện tử.
6. Thẻ ngân hàng là công cụ thanh toán do ngân hàng phát hành thẻ cấp cho khách hàng sử dụng theo hợp đồng ký kết giữa ngân hàng phát hành thẻ và chủ thẻ.
7. Cảnh báo là thông báo không cho phép người không có thẩm quyền truy cập vào cơ sở dữ liệu.
8. Mã truy cập là điều kiện bắt buộc đáp ứng một tiêu chí chuẩn nhất định trước khi sử dụng, truy cập tới thiết bị, nội dung dữ liệu được bảo vệ.
9. Tường lửa là tập hợp các thành phần hoặc một hệ thống các trang thiết bị, phần mềm hoặc phần cứng được đặt giữa hai hoặc nhiều mạng, nhằm kiểm soát tất cả các kết nối từ bên trong ra bên ngoài mạng và ngược lại, đồng thời ngăn chặn việc xâm nhập, kết nối trái phép.
10. Quyền quản trị mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet là quyền quản lý, vận hành, khai thác và duy trì hoạt động ổn định hệ thống mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet của cá nhân, tổ chức.
11. Hệ thống dữ liệu thuộc bí mật nhà nước là hệ thống thông tin do cơ quan, tổ chức quản lý có chứa những tin về vụ, việc, tài liệu, vật, địa điểm, thời gian, lời nói có nội dung quan trọng thuộc lĩnh vực chính trị, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, kinh tế, khoa học, công nghệ, các lĩnh vực khác mà Nhà nước không công bố hoặc chưa công bố và nếu bị tiết lộ thì sẽ gây nguy hại cho Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và được bảo vệ theo quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước.
12. Hệ thống thông tin phục vụ an ninh là hệ thống thông tin của cơ quan, tổ chức chứa đựng những dữ liệu có liên quan đến việc bảo đảm sự ổn định, phát triển bền vững của chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, sự bất khả xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.
13. Hệ thống thông tin phục vụ quốc phòng là hệ thống thông tin của tổ chức, cơ quan nhà nước chứa đựng những dữ liệu có liên quan đến việc bảo vệ đất nước.
14. Hệ thống thông tin điều hành lưới điện quốc gia là hệ thống thông tin phục vụ hoạt động quản lý, vận hành các công trình điện của quốc gia để truyền tải năng lượng điện từ nơi sản xuất điện đến cơ quan, tổ chức, cá nhân sử dụng điện.
15. Hệ thống thông tin điều khiển giao thông là hệ thống thông tin của cơ quan nhà nước phục vụ hoạt động quản lý, vận hành các công trình giao thông nhằm bảo đảm hoạt động giao thông thông suốt, trật tự, an toàn.
16. Hệ thống thông tin tài chính, ngân hàng là hệ thống thông tin chứa đựng cơ sở dữ liệu phục vụ cho một hoặc nhiều hoạt động kỹ thuật nghiệp vụ tài chính, ngân hàng.
Ngoài ra, Thông tư cũng hướng dẫn áp dụng các quy định về một số tình tiết là yếu tố định tội hoặc định khung hình phạt bao gồm các tình tiết: “gây hậu quả nghiêm trọng”, “gây hậu quả rất nghiêm trọng”, “gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng”, thế nào là thiệt hại về tài sản và việc xác định người bị hại trong các vụ án về công nghệ thông tin, quy trình thu thập dữ liệu…
Đặc biệt thông tư cũng đã quy định và mô tả rất cụ thể về các hành vi khách quan, các tình tiết, mức độ định lượng trong cấu thành cơ bản và cấu thành tăng nặng của các Điều 224, 225, 226, Điều 226a và 226b BLHS cụ thể như:
Về tội phát tán vi rút, chương trình tin học có tính năng gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet, thiết bị số (Điều 224 BLHS)
1. Cố ý phát tán vi rút, chương trình tin học có tính năng gây hại cho mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet, thiết bị số được hiểu là hành vi cố ý lan truyền chương trình vi rút, chương trình tin học nhằm gây rối loạn hoạt động, phong tỏa, sao chép, làm biến dạng, huỷ hoại các dữ liệu của máy tính, thiết bị viễn thông, thiết bị số.
2. Gây hậu quả nghiêm trọng quy định tại khoản 1 Điều 224 BLHS là gây thiệt hại về vật chất có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng.
3. Gây hậu quả rất nghiêm trọng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 224 BLHS là gây thiệt hại về vật chất có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng.
4. Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng quy định tại điểm c khoản 3 Điều 224 BLHS là gây thiệt hại về vật chất có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên.
 Về tội cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet, thiết bị số (Điều 225 BLHS)
1. Tự ý xóa, làm tổn hại hoặc thay đổi phần mềm, dữ liệu thiết bị số quy định tại điểm a khoản 1 Điều 225 BLHS là hành vi cố ý xóa, làm tổn hại hoặc thay đổi phần mềm, dữ liệu thiết bị số mà không được sự đồng ý của chủ thể quản lý phần mềm, dữ liệu kỹ thuật số đó.
2. Ngăn chặn trái phép việc truyền tải dữ liệu của mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet, thiết bị số quy định tại điểm b khoản 1 Điều 225 BLHS là hành vi trái pháp luật cố ý làm cho việc truyền tải dữ liệu của mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet, thiết bị số bị gián đoạn hoặc không thực hiện được.
3. Hành vi khác cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet, thiết bị số quy định tại điểm c khoản 1 Điều 225 BLHS là hành vi cố ý của người không có quyền quản lý, vận hành, khai thác mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet, thiết bị số làm ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet, thiết bị số bằng việc đưa vào, truyền tải làm hư hỏng, xóa, làm suy giảm, thay thế hoặc nén dữ liệu máy tính, thiết bị viễn thông hoặc thiết bị số.
4. Lợi dụng quyền quản trị mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet quy định tại điểm b khoản 2 Điều 225 BLHS là người phạm tội đã sử dụng quyền quản lý, vận hành, khai thác và duy trì hoạt động ổn định hệ thống mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet của mình để thực hiện hành vi phạm tội.
5. Gây hậu quả nghiêm trọng quy định tại khoản 1 Điều 225 BLHS là gây thiệt hại về vật chất có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng.
6. Gây hậu quả rất nghiêm trọng quy định tại điểm c khoản 2 Điều 225 BLHS là gây thiệt hại về vật chất có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng.
7. Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng quy định tại điểm c khoản 3 Điều 225 BLHS là gây thiệt hại về vật chất có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên.
 Về tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin trên mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet (Điều 226 BLHS)
1. Lợi dụng quyền quản trị mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet quy định tại điểm b khoản 2 Điều 226 BLHS được hiểu là người phạm tội đã sử dụng quyền quản lý, vận hành, khai thác và duy trì hoạt động ổn định hệ thống mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet của mình để thực hiện hành vi phạm tội.
2. Cần lưu ý, trường hợp xác định hậu quả phi vật chất có thể dựa vào cách đánh giá về ảnh hưởng xấu đến việc thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, gây ảnh hưởng về an ninh, trật tự, an toàn xã hội... Trong các trường hợp này phải tùy vào từng điều kiện cụ thể để đánh giá mức độ của hậu quả do tội phạm gây ra là nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.
3. Gây hậu quả nghiêm trọng quy định tại khoản 1 Điều 226 BLHS thuộc một trong những trường hợp sau:
a) Gây thiệt hại về vật chất có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;
b) Làm ảnh hưởng đến uy tín của cơ quan, tổ chức, dẫn đến gây rối loạn và làm đình trệ hoạt động của cơ quan, tổ chức;
4. Gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng quy định tại điểm d khoản 2 Điều 226 BLHS (tuy tính chất, mức độ hành vi khác nhau nhưng có cùng khung hình phạt) thuộc một trong những trường hợp sau:
a) Gây thiệt hại về vật chất có giá trị từ hai trăm triệu đồng trở lên;
b) Làm ảnh hưởng đến uy tín của cơ quan, tổ chức, dẫn đến việc cơ quan, tổ chức bị xâm phạm giải thể hoặc phá sản.
 Về tội truy cập bất hợp pháp vào mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số của người khác (Điều 226a BLHS)
1. Sử dụng quyền quản trị của người khác được hiểu là người phạm tội đã sử dụng bất hợp pháp quyền quản lý, vận hành, khai thác và duy trì hoạt động ổn định hệ thống mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet, thiết bị số để thực hiện hành vi phạm tội.
2. Thu lợi bất chính lớn quy định tại điểm c khoản 2 Điều 226a BLHS là thu lợi bất chính có giá trị từ hai mươi triệu đồng đến dưới một trăm triệu đồng.
3. Thu lợi bất chính rất lớn hoặc đặc biệt lớn quy định tại điểm c khoản 3 Điều 226a BLHS là thu lợi bất chính có giá trị từ một trăm triệu đồng trở lên.
4. Gây hậu quả nghiêm trọng quy định tại điểm d khoản 2 Điều 226a BLHS là gây thiệt hại về vật chất có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng.
5. Gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng quy định tại điểm d khoản 3 Điều 226a BLHS (tuy tính chất, mức độ hành vi khác nhau nhưng có cùng khung hình phạt) là gây thiệt hại về vật chất có giá trị từ hai trăm triệu đồng trở lên.
 Về tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản (Điều 226b BLHS)
1. Làm giả thẻ ngân hàng là việc cá nhân không có thẩm quyền sản xuất, phát hành thẻ ngân hàng nhưng sản xuất thẻ giống như thẻ ngân hàng (trong đó có chứa đựng thông tin, dữ liệu như thẻ của ngân hàng phát hành).
2. Truy cập bất hợp pháp vào tài khoản là hành vi cố ý vượt qua cảnh báo, mã truy cập, tường lửa hoặc sử dụng mã truy cập của người khác mà không được sự cho phép của người đó để truy cập vào tài khoản không phải của mình.
3. Lừa đảo trong thương mại điện tử, kinh doanh tiền tệ, huy động vốn tín dụng, mua bán và thanh toán cổ phiếu qua mạng là sử dụng thủ đoạn gian dối, đưa ra những thông tin sai sự thật về một sản phẩm, một vấn đề, lĩnh vực trong thương mại điện tử, kinh doanh tiền tệ, huy động vốn tín dụng, mua bán và thanh toán cổ phiếu trên mạng nhằm tạo niềm tin cho người chủ tài sản, người quản lý tài sản, làm cho họ tưởng là thật và mua, bán hoặc đầu tư vào lĩnh vực đó.
4. Hành vi khác quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 226b BLHS bao gồm các hành vi: Gửi tin nhắn lừa trúng thưởng nhưng thực tế không có giải thưởng để chiếm đoạt phí dịch vụ tin nhắn; quảng cáo bán hàng trên mạng Internet, mạng viễn thông nhưng không giao hàng hoặc giao không đúng số lượng, chủng loại, chất lượng thấp hơn hàng quảng cáo và các hành vi tương tự.
5. Phạm tội nhiều lần quy định tại điểm b khoản 2 Điều 226b BLHS được hiểu là đã có từ hai lần phạm tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số chiếm đoạt tài sản trở lên mà chưa có lần nào bị truy cứu trách nhiệm hình sự và chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.
6. Khi áp dụng tình tiết phạm tội có tính chất chuyên nghiệp quy định tại điểm c khoản 2 Điều 226b BLHS cần chú ý:
a) Chỉ áp dụng tình tiết phạm tội có tính chất chuyên nghiệp khi có đủ các tình tiết:
- Có từ 5 lần trở lên thực hiện hành vi phạm tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, không phân biệt đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay chưa, nếu chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chưa được xóa án tích;
- Người phạm tội lấy tài sản thu nhập bất chính do phạm các tội đó mà có làm nguồn sống chính.
b) Trường hợp trong các lần phạm tội nếu có lần phạm tội đã bị kết án mà chưa được xóa án tích thì tùy từng trường hợp cụ thể để xác định người phạm tội có thể bị áp dụng cả ba tình tiết là: “phạm tội nhiều lần”, “tái phạm” (hoặc “tái phạm nguy hiểm”) và “phạm tội có tính chất chuyên nghiệp”.
7. Gây hậu quả nghiêm trọng quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 226b BLHS là gây thiệt hại về vật chất có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng.
8. Gây hậu quả rất nghiêm trọng quy định tại điểm b khoản 3 Điều 226b BLHS là gây thiệt hại về vật chất có giá trị từ năm trăm triệu đồng đến dưới một tỷ năm trăm triệu đồng.
9. Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng quy định tại điểm b khoản 4 Điều 226b Bộ luật hình sự là gây thiệt hại về vật chất có giá trị từ một tỷ năm trăm triệu đồng trở lên.

III. DẤU HIỆU PHÁP LÝ ĐẶC TRƯNG CỦA CÁC TỘI PHẠM CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
Căn cứ vào hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 10/2012/ TTLT-BCA-BQP-BTP-BTT&TT-VKSNDTC-TANDTC ngày 10/09/2012 Hướng dẫn áp dụng quy định của Bộ luật hình sự về một số tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin và viễn thông, thì chúng ta có thể thấy các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của các tội phạm công nghệ trong lĩnh vực công nghệ thông tin và viễn thông thể hiện như sau:
1. Tội phát tán vi rút, chương trình tin học có tính năng gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet, thiết bị số (Điều 224 BLHS)
a. Khách thể của tội phạm:
Tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin và viễn thông được xếp vào chương các tội phạm xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng. Do đó, nhóm tội phạm này xâm phạm đến các quan hệ xã hội trong lĩnh vực an toàn trật tự xã hội. Nói một cách cụ thể, tội phạm loại này xâm hại đến an toàn trong hoạt động tin học và viễn thông, gây ra những ách tắc, rối loạn và thiệt hại về nhiều mặt cho đời sống xã hội.[1]
 b. Chủ thể của tội phạm:
Chủ thể thực hiện tội phạm là chủ thể thường, đủ độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự (từ đủ 16 tuổi trở lên chịu trách nhiệm về mọi hành vi phạm tội, từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng)[2] và có năng lực trách nhiệm hình sự. Mức hình phạt quy định tại khoản 3 Điều 224 BLHS quy định là tù từ 5 năm đến 12 năm (thuộc tội phạm rất nghiêm trọng), phạm tội thuộc khoản 1 và khoản 2 Điều 224 BLHS sẽ được xếp loại là tội phạm nghiêm trọng. Do đó, người từ đủ 16 tuổi trở lên sẽ phải chịu trách nhiệm về mọi hành vi phạm tội của Điều 224 BLHS, người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội nếu thuộc khoản 3 Điều 224 BLHS.
c. Mặt khách quan của tội phạm:
Hành vi khách quan của tội phạm thể hiện ở việc phát tán (cố ý lan truyền) vi rút, chương trình tin học có tính năng gây hại (gây rối loạn hoạt động, phong tỏa, sao chép, làm biến dạng, huỷ hoại các dữ liệu cho mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng internet, thiết bị số (Điều 224 BLHS và Điều 6 Thông tư).
Chương trình tin học có tính năng gây hại là chương trình tự động hóa xử lý thông tin, gây ra hoạt động không bình thường cho thiết bị số hoặc sao chép, sửa đổi, xóa bỏ thông tin lưu trữ trong thiết bị số. Tội phạm có cấu thành vật chất khi đòi hỏi phải gây hậu quả nghiêm trọng (gây thiệt hại về vật chất có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng)[3] thì mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
d. Mặt chủ quan của tội phạm:
Điều luật quy định “Người nào cố ý phát tán vi rút…”, do đó lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý.
đ. Hình phạt: Điều 224 BLHS quy định có ba khung hình phạt:
Khung 1: Quy định mức hình phạt tiền từ hai mươi triệu đồng đến hai trăm triệu đồng hoặc phạt tù từ một năm đến năm năm, trong trường hợp gây thiệt hại từ 50 triệu đồng đến dưới 200 triệu đồng;
Khung 2: Quy định hình phạt tù từ ba năm đến bảy năm tương ứng với một số tình tiết định khung tăng nặng của tội phạm, trong đó đáng chú ý là gây hậu quả rất nghiêm trọng (gây thiệt hại về vật chất có giá trị từ hai trăm triệu đồng đồng đến dưới năm trăm triệu đồng)[4] sẽ bị xử phạt theo khoản 2 Điều 224 BLHS.
Khung 3: Quy định hình phạt tù từ năm năm đến mười hai năm đối với các tình tiết định khung tăng nặng.
Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng quy định tại điểm c khoản 3 Điều 224 BLHS là gây thiệt hại về vật chất có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên.[5]
Khung 4: Hình phạt bổ sung quy định mức phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.
2. Tội cản trở hoặc gây rối hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet, thiết bị số (Điều 225)
a. Khách thể của tội phạm:
Cũng giống như Điều 224 BLHS, khách thể của tội phạm quy định tại Điều 225 BLHS cũng là xâm phạm đến hoạt động an toàn của hệ thống máy tính và viễn thông.
b. Chủ thể của tội phạm:
Chủ thể của tội phạm quy định tại Điều 225 BLHS là chủ thể thường, tương tự như chủ thể của tội phạm tại Điều 224 BLHS.
c. Mặt khách quan của tội phạm:
Các dạng hành vi phạm tội có thể thuộc một trong các trường hợp sau:
- Tự ý (được hiểu là thực hiện hành vi một cách cố ý khi không có sự đồng ý của chủ thể quản lý phần mềm, dữ liệu kỹ thuật số) xoá, làm tổn hại hoặc thay đổi phần mềm, dữ liệu thiết bị số.
- Ngăn chặn trái phép (được hiểu là hành vi trái pháp luật được thực hiện một cách cố ý làm gián đoạn hoặc làm cho không thực hiện được )việc truyền tải dữ liệu của mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet, thiết bị số.
- Hành vi khác cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet, thiết bị số. Ở đây nhà làm luật đã xây dựng một quy định mở, theo đó các dạng hành vi khác (không liệt kê) nếu sau này phát sinh trên thực tế mà chưa được dự liệu trước ở thời điểm sửa đổi, bổ sung BLHS 2009 làm cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng internet và thiết bị số sẽ có thể xem xét xử lý theo nhóm hành vi này. Thông tư có hướng dẫn bằng cách liệt kê một số ví dụ của “hành vi khác” ở đây có thể là đưa vào, truyền tải làm hư hỏng, xóa, làm suy giảm, thay thế hoặc nén dữ liệu máy tính, thiết bị viễn thông hay thiết bị số. Cản trở hoặc gây rối loạn được hiểu là hành vi cố ý trái pháp luật của người không có thẩm quyền (trong khai thác, quản lý, vận hành) làm ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng internet và thiết bị số.[6]
d. Mặt chủ quan của tội phạm: Lỗi của người phạm tội có thể là cố ý.
đ. Hình phạt: Điều 225 quy định ba khung hình phạt:
Khung 1: Quy định hình phạt tiền từ hai mươi triệu đến hai trăm triệu đồng hoặc phạt tù từ một năm đến năm năm
Tội phạm có cấu thành vật chất, đòi hỏi phải có hậu quả nghiêm trọng (gây thiệt hại về vật chất có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng) nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 224 BLHS hay Điều 226a BLHS.
Khung 2: Quy định hình phạt tù từ ba năm đến bảy năm tương ứng với một số tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự, trong đó đáng chú ý là điểm b khoản 2 Điều 225 BLHS “Lợi dụng quyền quản trị mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet”. Trong đó quyền quản trị mạng được hiểu là quyền quản lý, vận hành, khai thác và duy trì hoạt động ổn định hệ thống mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet.[7] Tình tiết gây hậu quả rất nghiêm trọng quy định tại khoản này là thiệt hại vật chất có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng.
Khung 3: Quy định hình phạt tù từ năm năm đến mười hai năm tương ứng với một số tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự, Hậu quả đặc biệt nghiêm trọng quy định tại khoản 3 Điều 225 BLHS là thiệt hại vật chất có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên.[8]
Hình phạt bổ sung: Quy định như Điều 224 BLHS.
3. Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin trên mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet (Điều 226 BLHS)
a. Khách thể của tội phạm:
Cũng giống như tội phạm Điều 224, Điều 225 BLHS, tội phạm quy định tại Điều 226 BLHS cũng xâm phạm khách thể là sự an toàn của hoạt động trong lĩnh vực công nghệ thông tin và viễn thông.
b. Chủ thể của tội phạm: Chủ thể của tội phạm là chủ thể thường.
c. Mặt khách quan của tội phạm:
Hành vi phạm tội được thể hiện ở một trong các dạng sau:
- Đưa lên mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng internet (gọi chung là mạng) những thông tin trái pháp luật, thông tin trái pháp luật ở đây được hiểu là những thông tin vi phạm các điều cấm của pháp luật (như thông tin bôi xấu danh dự, nhân phẩm của người khác, các thông tin phản khoa học gây hoang mang và bức xúc trong dư luận…), hoặc vi phạm các chuẩn mực đạo đức và thuần phong mĩ tục của dân tộc.
- Mua bán, trao đổi, tặng cho, sửa chữa, thay đổi hoặc công khai hóa những thông tin riêng hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác trên mạng mà không được phép của chủ sở hữu thông tin đó. Đây được hiểu là quy định mang tính chất bảo vệ quyền công dân, quyền của cá nhân đối với hình ảnh, quyền bí mật đời tư, quyền được bảo vệ về danh dự, nhân phẩm, uy tín được quy định trong Bộ luật dân sự năm 2005. Đây là quyền của cá nhân, tổ chức trong việc định đoạt các thông tin về bí mật đời tư của cá nhân, các thông tin riêng của tổ chức mà họ là chủ sở hữu các thông tin đó. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng đây là những thông tin riêng hợp pháp thì chủ sở hữu của những thông tin đó mới được pháp luật bảo vệ. Theo cách hiểu thông thường thì đây là những dạng thông tin riêng của cá nhân, tổ chức phù hợp với quy định của pháp luật, chuẩn mực đạo đức và thuần phong mĩ tục.
- Các hành vi khác sử dụng trái phép thông tin trên mạng. Đây là một quy định mở để truy cứu trách nhiệm hình sự những trường hợp người không có thẩm quyền quản lý, sử dụng, khai thác thông tin trên mạng nhưng vẫn sử dụng những thông tin đó.
Hậu quả pháp lý bắt buộc là phải gây thiệt hại nghiêm trọng, thiệt hại về vật chất có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng, có cân nhắc đến các thiệt hại phi vật chất như ảnh hưởng xấu đến việc thực hiện các chính sách, đường lối chủ trương của Đảng và Nhà nước, gây ảnh hưởng đến an ninh, trật tự xã hội, ảnh hưởng đến uy tín của hoạt động các cơ quan, tổ chức.[9]
d. Mặt chủ quan của tội phạm: Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý.
đ. Hình phạt: Điều 226 quy định hai khung hình phạt.
Khung 1: Quy định mức phạt tiền từ mười triệu đến một trăm triệu đồng cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.
Khung 2: Điều 226 BLHS quy định về một số tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự, đáng chú ý là tình tiết gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, đã được hướng dẫn định lượng cụ thể như sau: Gây thiệt hại về vật chất có giá trị từ hai trăm triệu đồng trở lên; hoặc làm ảnh hưởng đến uy tín của cơ quan, tổ chức, dẫn đến việc cơ quan, tổ chức bị xâm phạm giải thể hoặc phá sản.
Hình phạt bổ sung: Phạt tiền từ hai mươi triệu đồng đến hai trăm triệu đồng, các quy định khác giống như Điều 225 BLHS.
4. Tội truy cập bất hợp pháp vào mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số của người khác (Điều 226a BLHS)
a. Khách thể của tội phạm: Tội phạm xâm phạm đến sự an toàn trong hoạt động của lĩnh vực công nghệ thông tin và viễn thông.
b Chủ thể của tội phạm: Chủ thể của tội phạm là chủ thể thường.
c. Mặt khách quan của tội phạm: Hành vi khách quan của tội phạm thể hiện ở các dạng sau:
- Truy nhập bất hợp pháp vào mạng máy tính, mạng internet, mạng viễn thông hoặc thiết bị số của người khác để chiếm quyền điều khiển. Thủ đoạn là vượt qua cảnh báo, mã truy cập, tường lửa, sử dụng quyền quản trị của người khác hoặc phương thức khác. Lợi dụng quyền quản trị mạng của người khác được hiểu là sử dụng trái phép quyền quản lý, vận hành, khai thác, duy trì hoạt động ổn định của hệ thống mạng và thiết bị số để thực hiện hành vi phạm tội.
- Can thiệp vào chức năng hoạt động của thiết bị số.
- Lấy cắp, thay đổi hoặc hủy hoại, làm giả dữ liệu hoặc sử dụng trái phép dịch vụ.
Tội phạm có cấu thành hình thức vì không yêu cầu hậu quả là dấu hiệu bắt buộc. Hậu quả có thể được xem xét là tình tiết định khung tăng nặng ở khoản 2, khoản 3 Điều 226a BLHS. Gây hậu quả nghiêm trọng quy định tại điểm d khoản 2 Điều 226a BLHS là gây thiệt hại về vật chất có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng. Gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng quy định tại điểm d khoản 3 Điều 226a BLHS (tuy tính chất, mức độ hành vi khác nhau nhưng có cùng khung hình phạt) là gây thiệt hại về vật chất có giá trị từ hai trăm triệu đồng trở lên.[10]
Đáng lưu ý là trong tội danh này, thu lợi bất chính có thể được coi là tình tiết định khung tăng nặng. Thu lợi bất chính lớn quy định tại điểm c khoản 2 Điều 226a BLHS là thu lợi bất chính có giá trị từ hai mươi triệu đồng đến dưới một trăm triệu đồng. Thu lợi bất chính rất lớn hoặc đặc biệt lớn quy định tại điểm c khoản 3 Điều 226a BLHS là thu lợi bất chính có giá trị từ một trăm triệu đồng trở lên.[11]
d Mặt chủ quan của tội phạm: Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý.
5. Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản (Điều 226b):
a. Khách thể của tội phạm: Tội phạm xâm phạm hoạt động bình thường trong lĩnh vực công nghệ thông tin và viễn thông.
b. Chủ thể của tội phạm: Chủ thể phạm tội là chủ thể thường.
c. Mặt khách quan của tội phạm: Mục đích của người phạm tội là nhằm chiếm đoạt tài sản, sử dụng máy tính, mạng viễn thông, mạng internet và thiết bị số như là công cụ phạm tội. Hành vi khách quan của tội phạm thể hiện ở một trong những dạng sau:
- Sử dụng thông tin về tài khoản, thẻ ngân hàng của cơ quan, tổ chức, cá nhân để chiếm đoạt hoặc làm giả thẻ ngân hàng nhằm chiếm đoạt tài sản của chủ thẻ hoặc thanh toán hàng hoá, dịch vụ. Trong đó, làm giả thẻ ngân hàng là việc cá nhân không có thẩm quyền sản xuất, phát hành thẻ ngân hàng nhưng sản xuất thẻ giống như thẻ ngân hàng (trong đó có chứa đựng thông tin, dữ liệu như thẻ của ngân hàng phát hành).
- Truy cập bất hợp pháp vào tài khoản của cơ quan, tổ chức, cá nhân nhằm chiếm đoạt tài sản, tức là việc cố ý vượt qua cảnh báo, mã truy cập, tường lửa hoặc sử dụng mã truy cập của người khác mà không được sự cho phép của người đó để truy cập vào tài khoản không phải của mình để chiếm đoạt tài sản.
- Lừa đảo trong thương mại điện tử, kinh doanh tiền tệ, huy động vốn tín dụng, mua bán và thanh toán cổ phiếu qua mạng nhằm chiếm đoạt tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Hành vi lừa đảo thể hiện ở việc sử dụng thủ đoạn gian dối, đưa ra những thông tin sai sự thật về một sản phẩm, một vấn đề, lĩnh vực trong thương mại điện tử, kinh doanh tiền tệ, huy động vốn tín dụng, mua bán và thanh toán cổ phiếu trên mạng nhằm tạo niềm tin cho người chủ tài sản, người quản lý tài sản, làm cho họ tưởng là thật và mua, bán hoặc đầu tư vào lĩnh vực đó.
- Hành vi khác nhằm chiếm đoạt tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Hành vi khác ở đây có thể là gửi tin nhắn lừa trúng thưởng nhưng thực tế không có giải thưởng để chiếm đoạt phí dịch vụ tin nhắn; quảng cáo bán hàng trên mạng Internet, mạng viễn thông nhưng không giao hàng hoặc giao không đúng số lượng, chủng loại, chất lượng thấp hơn hàng quảng cáo và các hành vi tương tự.
Một số tình tiết là định khung tăng nặng của điều luật như phạm tội nhiều lần, phạm tội có tính chất chuyên nghiệp, gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng được hướng dẫn cụ thể tại các khoản 5, 6, 7, 8, 9 Điều 10 Thông tư hướng dẫn. Cần chú ý là khi xem xét dấu hiệu hậu quả là tình tiết định khung tăng nặng thì không được căn cứ vào giá trị tài sản bị chiếm đoạt mà phải xác định đó là thiệt hại xảy ra ngoài giá trị tài sản bị chiếm đoạt (Điều 3 Thông tư hướng dẫn).
d. Mặt chủ quan của tội phạm: Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý.
6. Một số vướng mắc trong việc giải quyết các vụ án về tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin và viễn thông
Mặc dù Bộ luật hình sự năm 1999 đã quy định ba điều luật về các tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin là Điều 224, 225, 226 và luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 2009 đã tội phạm hóa một số hành vi thành các tội độc lập, quy định tại Điều 226a và 226b. Song thực tiễn các vụ án trong lĩnh vực công nghệ thông tin được đưa ra xét xử rất ít. Như năm 2009 trở về trước, theo thống kê các vụ án hình sự xét xử trên phạm vi cả nước thì tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin không có vụ án nào, năm 2010 có 1 vụ với 1 bị cáo, năm 2011 có 4 vụ với 12 bị cáo.[12]
Số lượng các vụ án thuộc lĩnh vực công nghệ thông tin không được đưa ra xét xử nhiều là do nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân khách quan như:
Thứ nhất: Về vấn đề thu thập, bảo quản và đánh giá chứng cứ.
Trong các vụ án thuộc lĩnh vực công nghệ thông tin thì các dấu vết được thu thập thường thể hiện là các chứng cứ điện tử.[13] Do đó việc thu thập, bảo quản và xử lý các chứng cứ này để chứng minh tội phạm đòi hỏi phải tuân theo chu trình nghiêm ngặt, nếu không rất dễ làm mất các dấu vết không khôi phục được. Lý do là loại chứng cứ điện tử nếu không được lưu giữ giám sát theo quy trình được pháp luật quy định thì sẽ không bảo toàn được tính chính xác toàn vẹn so với nguyên gốc vì đặc điểm của loại tài liệu này rất dễ có thể bị sửa chữa, xóa bớt hay chèn thêm thông tin.[14] Trong thực tiễn, những dữ liệu máy tính thể hiện phương thức, thủ đoạn phạm tội của tội phạm công nghệ cao cho đến nay chưa được coi là chứng cứ nếu không xử lý tốt bằng các biện pháp tố tụng, chuyển hóa. Ngoài ra, giữa các cơ quan tố tụng còn có những nhận thức chưa thống nhất về thủ đoạn phạm tội cũng như cách thức vận dụng pháp luật để giải quyết án. Chính vì vậy, việc đánh giá chứng cứ để chứng minh tội phạm là hết sức khó khăn.
Thứ hai: Về trình độ của đội ngũ điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán và trang thiết bị của các cơ quan pháp luật còn chưa được trang bị đầy đủ và phù hợp.
Đây là loại tội phạm mới xuất hiện ở Việt Nam, là lĩnh vực rất phức tạp, các hoạt động phạm tội trong lĩnh vực này thường rất khó phát hiện, để đấu tranh với loại tội phạm này đòi hỏi cần phải có đội ngũ Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán chuyên nghiệp có kiến thức chuyên ngành về công nghệ thông tin. Song thực tế hiện nay, lực lượng Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán thực thi nhiệm vụ trong lĩnh vực này còn mỏng, trang thiết bị còn nhiều hạn chế nên kinh nghiệm điều tra, truy tố cũng chưa nhiều. Các quy định trong Bộ luật hình sự về loại tội phạm này ban hành từ năm 1999 cho đến năm 2009 có bổ sung thêm một số tội danh mới, nhưng đến năm 2012 mới có văn bản hướng dẫn thi hành. Như vậy, ngoài yếu tố nhận thức và hiểu biết về kiến thức chuyên ngành công nghệ thông tin của các cán bộ tiến hành tố tụng còn hạn chế, thì một trong những khó khăn trong việc ứng phó với loại tội phạm này là các quy định của Bộ luật hình sự còn quá chung chung, mang tính nguyên tắc, sau khoảng thời gian dài kể từ khi ban hành đến nay mới có văn bản hướng dẫn, nên có thể dẫn tới việc hiểu điều luật chưa thống nhất và bỏ lọt tội phạm. Theo dự báo thì tình hình tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin và viễn thông sẽ có chiều hướng gia tăng với tốc độ nhanh và ngày càng tinh vi phức tạp liên ngành Trung ương cần có các hội nghị tập huấn và các văn bản hướng dẫn cụ thể, thường xuyên để việc xử lý và áp dụng pháp luật được thống nhất, hiệu quả hơn.
Bên cạnh đó, đối với loại tội phạm sử dụng công nghệ cao, cần trao quyền cho cơ quan điều tra được sử dụng các kỹ thuật điều tra đặc biệt để thu thập chứng cứ ví dụ sử dụng kỹ thuật công nghệ máy tính để phục hồi lại các dữ liệu đã bị xóa... cũng như quyền hạn ở phạm vi rộng hơn liên quan đến hoạt động thu thập các chứng cứ ở dạng dữ liệu điện tử (như quyền yêu cầu các nhà cung cấp dịch vụ mạng cung cấp thông tin, quyền truy cập máy tính và lấy dữ liệu), cần coi những hành vi cố tình truy cập trái phép vào  hệ thống mạng các lĩnh vực quan trọng mang tính bí mật của nhà nước như của Chính phủ, Quân đội, Công an… chỉ là hành vi phạm tội, không cần phải chứng minh rõ về mục đích hay động cơ phạm tội. Có thực hiện được những điều này thì chúng ta mới có thể xử lý một cách hiệu quả đối với loại hình tội phạm mới này.




[1] Tham khảo giáo trình luật hình sự (phần riêng) của trường Đại học Luật Hà Nội, trang 216.
[2] Điều 12 Bộ luật hình sự
[3] Xem khoản 2 Điều 6 Thông tư
[4] Xem khoản 3 Điều 6 Thông tư
[5] Xem khoản 4 Điều 6 Thông tư
[6] Tham khảo khoản 1, 2, 3 Điều 7 Thông tư
[7] Khoản 10 Điều 2 Thông tư
[8] Điều 7 Thông tư
[9] Xem thêm Điều 8 Thông tư
[10] Khoản 4, 5 Điều 9 Thông tư
[11]. Khoản 2, 3 Điều 9 Thông tư
[12] Số liệu thống kê tội phạm năm  2011, 2010, 2009, 2008, 2007 (do Tòa án nhân dân tối cao tổng hợp).
[13] Chứng cứ điện tử là những chứng cứ được lưu giữ dưới hình thức điện tử hoặc kỹ thuật số trong máy tính hoặc thiết bị điện tử có bộ nhớ (như máy điện thoại, máy photocopy…). Những chứng cứ điện tử được thu thập để chứng minh tội phạm có thể là các chứng cứ điện tử do máy tính tự tạo ra, hoặc do con người tự tạo ra được lưu giữ trong máy tính hoặc trong thiết bị điện tử (như các tập tin tài liệu, hình ảnh…)
[14] TS Phạm Văn Lợi (chủ biên), Tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, NXB Tư pháp, 2007, trang 132.

nhãn totunghinhsu

THÔNG TIN TỐ TỤNG HÌNH SỰ

banner

ĐÀO TẠO NGHIỆP VỤ XÉT XỬ TẠI TP. HỒ CHÍ MINH

VĂN BẢN MỚI BAN HÀNH

VĂN BẢN MỚI

TIN PHÁP ĐÌNH


THONG TIN TRANG NGHIỆP VỤ