Đang tải dữ liệu...
Thẩm Phán 13 Lớp B (thamphan13) /* Menu Horizontal top*/

Tạo banner chạy dọc hai bên

hinhlop1

hinhlop


Download Hình

Tiện ích bài đăng có ảnh thumbnail chạy ngang

Đề thi tốt nghiệp lớp nghiệp vụ xét xử thẩm phán 13 Học Viện Tư Pháp ở Hà Nội ngày 08-08-2012

20:21:00 |
Các bạn download đề thi tốt nghiệp lớp nghiệp vụ xét xử thẩm phán 13 Học Viện Tư Pháp ở Hà Nội ngày 08-08-2012
File đề thi tốt nghiệp Hình sự Dân Sự Hành Chính lớp nghiệp vụ Xét Xử


Hướng dẫn cách làm bài thi Hình sự Học Viện Tư Pháp TPHCM


NỘI DUNG VỤ ÁN

Năm 2000 Lương Thế Toại có mua một xe ô tô 4 chỗ ngồi BKS 52N-6622 của Cao Huy Dương nhưng đứng tên trong giấy đăng ký xe là Nguyễn Thị Đức(vợ Toại) Do Công an TP. Hồ Chí Minh cấp.
          Ngày 27-02-2001Toại bán chiếc xe này cho anh Trần Quốc Cường giá 27.500 USD, hai bên có thỏa thuận nếu giấy tờ xe không hợp pháp thì bên mua sẽ trả lại xe và bên bán trả lại tiền. Sau đó, anh Cường bán xe này cho anh Nguyễn Hoàng Triệu giá 30.500USD; Anh Triệu lại bán xe cho anh Lê Thành Dân giá 37.000USD. Khi anh Dân làm thủ tục đăng ký chuyển vùng xe thì phát hiện hồ sơ chiếc xe ô tô biển kiểm soát 52N-6622 nêu trên là giấy tờ giả, nên trả lại xe cho anh Triệu và anh Triệu trả lại xe cho anh Cường. Khi anh Cường trả lại xe cho Toại đã nói rõ giấy tờ xe không hợp pháp. Toại nhận lại xe và trả cho anh Cường 10.000USD, còn nợ 17.500USD.
          Ngày 14-7-2002, Lương Thế Toại cùng vợ là Nguyễn Thị Đức đem xe ô tô đến nhà anh Đào Duy Đông là chủ cửa hàng kinh doanh vàng bạc, cầm cố vay 300.000.000đ, thời hạn là 30 ngày với lãi xuất 3%. Toại nói với Đông là xe hợp pháp, đăng ký chính chủ tên vợ Toại và giao toàn bộ đăng ký và các giấy tờ khác cho anh Đông( anh Đông soi giấy tờ xe trên máy soi tiền và khẳng định là giấy tờ thật). Trong thời hạn thỏa thuận, anh Đông yêu cầu Toại đến nhận xe và trả lại tiền nhưng Toại không có tiền trả nên khất nợ. Xe và các giấy tờ xe anh Đông quản lý sử dụng.
          Ngày 28-3-2003, anh Đông có đơn đề nghị cơ quan pháp luật can thiệp xử lý đối với Toại đồng thời giao xe ô tô BKS 52N-6622 cho cơ quan điều tra. Toại không có mặt tại địa phương. Ngày 14-5-2004 Toại đến cơ quan điều tra Công an tỉnh K  tự nguyện nộp 300.000.000đ trả cho anh Đông.
          Ngày 12-9-2004 VKSND tỉnh K truy tố bị cáo về tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” căn cứ điểm a khoản 3 Điều 139 BLHS.

Kỹ năng giải quyết các vụ việc dân sự HP2/DS-01

10:20:00 |
HỌC VIỆN TƯ PHÁP
Môn học: Kỹ năng giải quyết các vụ việc dân sự
Đề thi: HP2/DS-01
Thời gian: 150 phút
----------*--------


Theo nội dung đơn khởi kiện của ông Nguyễn Thanh Huy: Ngày 22.3.2010 ông và vợ là bà Lê Thị Hoa (cư trú tại quận LB, TP. H) cùng bà Phan Thùy Dung (cư trú tại quận HK, TP. H) ký hợp đồng đặt cọc để đảm bảo thực hiện hợp việc chuyển đổi nhà, đất giữa căn nhà số 37 phố B, quận Đ, TP.H do bà Dung là chủ sở hữu và căn nhà số 33 phố T, quận X, TP. H do vợ chồng ông là chủ sở hữu. Trong hợp đồng, hai bên thỏa thuận về đặt cọc và phạt cọc. Tại điều 2 của hợp đồng đặt cọc chuyển đổi nhà, đất có nội dung “.. Ngay sau khi nhận đặt cọc, bà Dung phải lập hợp đồng uỷ quyền cho ông Huy thay mặt bà nhận tiền thuê nhà của Công ty An Phú, thoả thuận chấm dứt hợp đồng thuê nhà trước thời hạn (hợp đồng thuê có thời hạn đến ngày 10/04/2012) và đại diện cho bà Dung trước các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để giải quyết tranh chấp với công ty An Phú nếu các bên có tranh chấp…”. Căn cứ theo thỏa thuận giữa hai bên trong hợp đồng, ngày 23.3.2010 tại nhà bà Dung, vợ chồng ông đã đặt cọc cho bà Dung 100 lượng vàng SJC, bà Dung có viết giấy biên nhận, bà Dung đã giao cho vợ chồng ông bản chính các giấy tờ sở hữu nhà số 37 phố B, quận Đ, TP. H; hợp đồng thuê nhà của bà và Công ty cổ phần bảo hiểm An Phú (gọi tắt là công ty An Phú) có trụ sở chính tại quận Đ, TP. H.
  Trong quá trình triển khai thực hiện hợp đồng, vợ chồng ông đã liên lạc rất nhiều lần đề nghị bà Dung thực hiện các thỏa thuận trong hợp đồng nhưng bà Dung không thực hiện. Nay  ông khởi kiện bà Dung yêu cầu bà Dung trả cho vợ chồng ông 100 lượng vàng SJC và phải chịu phạt cọc gấp ba lần theo thỏa thuận tại hợp đồng đặt cọc chuyển đổi nhà, đất ngày 22.03.2010 là 300 lượng vàng SJC.
  Đơn khởi kiện của ông Huy được gửi đến Tòa án quận Đ, thành phố H
Câu hỏi 1: Theo anh (chị), Tòa án quận Đ có thẩm quyền thụ lý đơn khởi kiện của ông Huy không, tại sao?
Tình tiết bổ sung
  Tòa án có thẩm quyền thụ lý vụ án. Theo lời trình bày của bà Dung tại tòa án: bà thừa nhận giữa bà và vợ chồng ông Huy có ký hợp đồng đặt cọc chuyển đổi nhà, đất đúng như ông Huy trình bày. Nhà, đất tại số 37 phố B, quận Đ là tài sản riêng của bà được bố mẹ để lại thừa kế, bà đã được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất từ năm 1998 và đến nay bà cũng chưa kết hôn cùng ai. Nhà số 33 phố T, quận X vợ chồng ông Huy cũng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sở hữu nhà ở năm 2004. Việc vi phạm hợp đồng là do lỗi của vợ chồng ông Huy cụ thể: không cùng bà làm hợp đồng uỷ quyền tại phòng công chứng theo điều 2 của hợp đồng đặt cọc chuyển đổi nhà, đất; giấy tờ chủ quyền nhà số 33, phố T, quận X tại thời điểm ký hợp đồng vợ chồng ông Huy đang thế chấp tại ngân hàng. Vợ chồng ông Huy không giải chấp để lấy lại giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà, tự ý bán căn nhà 33 phố T, quận X không thông báo cho bà. Vì vậy bà không đồng ý yêu cầu khởi kiện của vợ chồng ông Huy, đồng thời bà yêu cầu vợ chồng ông Huy phải chịu phạt cọc 200 lượng vàng SJC theo đúng thỏa thuận của hai bên trong hợp đồng.
  Theo ông Huy, bà Hoa thì việc bà Dung phải thực hiện công việc ủy quyền cho ông Huy tại phòng công chứng là điều kiện để thực hiện các công việc tiếp theo là phía bà Dung phải ra công chứng ký kết hợp đồng mua bán nhà số 37 phố B, quận Đ nhưng bà Dung đều không thực hiện. Ngày 03.4.2010 vợ chồng ông Huy đã bán căn nhà số 33 phố T, quận X cho người khác.
Câu hỏi 2: Anh (chị) hãy xác định quan hệ pháp luật phát sinh tranh chấp trong vụ án, giải thích tại sao?
Câu hỏi 3: Theo anh (chị) yêu cầu của bà Dung có phải là yêu cầu phản tố không? Tại sao?
Tình tiết bổ sung
           Tại Điều 4 của hợp đồng chuyển đổi nhà đất giữa vợ chồng ông Huy, bà Dung ghi: “..Bên B (vợ chồng ông Huy) có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng để lấy lại giấy tờ sở hữu nhà, đất số 33 phố T, quận X, Tp. H nhằm thực hiện việc chuyển đổi tài sản theo thỏa thuận. Bên B có trách nhiệm cho thuê nhà 33 phố T với giá ít nhất là 10.000USD/1 tháng, trường hợp không cho thuê được thì Bên B phải có trách nhiệm tìm cách tự bán nhà 33 phố T, quận X để bù số tiền 05 tỷ đồng cho Bên A (bà Dung) để mua nhà 37 phố B, quận Đ của Bên A. Bên A phải lập thông báo ngay cho bên thuê nhà thông báo việc cử bên B bằng hợp đồng ủy quyền thay mặt lấy tiến thuê nhà và các vấn đề liên quan đến việc thuê nhà. Tiền thuê nhà 37 phố B, quận Đ, Bên B được hưởng kể từ thời điểm ký hợp đồng đặt cọc…”.
Câu hỏi 4: Anh (chị) hãy xác định các tình tiết cần phải làm rõ trong vụ án?
Tình tiết bổ sung
          Tài liệu trong hồ sơ vụ án thể hiện: sau khi ký hợp đồng đặt cọc chuyển đổi nhà, đất; vợ chồng ông Huy đã tiến hành giải chấp nhà số 33 phố T, quận X tại ngân hàng; đã tiến hành tìm đối tác để cho thuê nhà nhưng không đảm bảo được điều kiện của hợp đồng về giá cả và các điều kiện khác như đã thỏa thuận với bà Dung nên ngày 03.4.2010 vợ chồng ông Huy đã bán nhà 33 phố T, quận X cho vợ chồng ông Linh, bà Loan cư trú tại quận X để lấy tiền mua nhà số 37 phố B, quận Đ bằng tiền mặt như thỏa thuận hai bên đã ký trong hợp đồng. Vợ chồng ông Huy đề nghị được trả 05 tỷ đồng cho bà Dung để thực hiện việc mua bán nhà số 37 phố B, quận Đ nhưng bà Dung không đồng ý bán.
Câu hỏi 5: Anh (chị) hãy xác định tư cách đương sự trong vụ án?
Tình tiết bổ sung
Tài liệu trong hồ sơ vụ án thể hiện: bà Dung vẫn lĩnh tiền thuê nhà hàng tháng của công ty An Phú, công ty An Phú không nhận được bất cứ thông báo nào về việc ủy quyền của bà Dung cho ông Huy giải quyết hợp đồng thuê. Công ty An Phú hoàn toàn không biết thỏa thuận chuyển đổi nhà, đất giữa vợ chồng ông Huy và bà Dung.
Tại biên bản đối chất ngày 18.3.2011 ông Huy, bà Hoa tiếp tục yêu cầu bà Dung thực hiện việc giao kết hợp đồng chuyển đổi nhà, đất nhưng bà Dung từ chối không thực hiện. Ông Huy, bà Hoa cũng đề nghị được mua nhà số 37 phố B, quận Đ với giá thỏa thuận trong hợp đồng nhưng do bà Dung không đồng ý nên vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện yêu cầu bà Dung trả lại tiền đặt cọc và bồi thường gấp ba lần, tổng cộng là 400 lượng vàng SJC.
Có ý kiến cho rằng hợp đồng đặt cọc chuyển đổi nhà, đất đã ký kết giữa hai bên là hợp đồng vô hiệu do lỗi của vợ chồng ông Huy vì tại thời điểm ký hợp đồng căn nhà 33 phố T, quận X là tài sản đang thế chấp tại Ngân hàng. Việc ký hợp đồng đặt cọc trao đổi nhà giữa các bên là vi phạm khoản 4 Điều 348 Bộ luật dân sự 2005.
Câu hỏi 6:.Anh (chị) có đồng ý với ý kiến trên không, tại sao?
Tình tiết bổ sung
Tại phiên hòa giải lần thứ nhất mở ngày 20.5.2011, có mặt vợ chồng ông Huy, bà Dung.
Câu hỏi 7: Thẩm phán có tiến hành phiên hòa giải được không, Tại sao? Quan điểm của anh (chị) về hướng giải quyết yêu cầu của bên nguyên đơn.



ĐÁP ÁN KỲ THI HỌC PHẦN LỚP ĐÀO TẠO NGUỒN THẨM PHÁN
Môn: Kỹ năng giải quyết các vụ việc Dân sự

Câu hỏi
Nội dung trả lời
Điểm

Điểm HV


1

* Theo anh (chị) Tòa án nhân dân quận Đ có thẩm quyền thụ lý đơn khởi kiện của ông Huy không?
TAND quận Đ,Thành phố H. không có thẩm quyền thụ lý đơn khởi kiện của ông Huy. Lý do: ông Huy yêu cầu khởi kiện là trả tiền đặt cọc và phạt cọc từ hợp đồng đặt cọc. Vì vậy, đây là tranh chấp hợp đồng đặt cọc để bảo đảm thực hiện chuyển đổi nhà đất. Tranh chấp này không liên quan đến bất động sản toạ lạc tại quận Đ, thành phố H. Do đó, xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp này theo lãnh thổ là toà án nơi bà Dung cư trú theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 BLTTDS  (TAND quận HK, thành phố H.)

1 đ

2

* Quan hệ pháp luật phát sinh tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”. Lý do:
-  Các bên đã xác lập hợp đồng đặt cọc chuyển đổi nhà đất theo Đ 358 BLDS;
-  Thực tế vợ chồng ông Huy đã thực hiện việc đặt cọc và bên nguyên đơn cho rằng bị đơn đã vi phạm hợp đồng đặt cọc.
-  Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả tiền đặt cọc và phạt cọc.
1,5 đ




3

* Yêu cầu của bà Dung là yêu cầu phản tố
- Bị đơn yêu cầu nguyên đơn phải chịu phạt cọc 200 lượng vàng SJC do nguyên đơn đã vi phạm nghĩa vụ thoả thuận trong hợp đồng đặt cọc. Đây là yêu cầu độc lập, không cùng yêu cầu của nguyên đơn theo quy định tại điểm b, khoản 2 điều 176 và hướng dẫn tại tiểu mục 11.3 phần I Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP hướng dẫn thi hành các quy định trong Phần thứ hai “Thủ tục giải quyết vụ án tại Toà án cấp sơ thẩm”.
1 đ





4

* Anh (chị) xác định các tình tiết cần làm rõ trong vụ án:
- Các tình tiết để xác định hiệu lực của hợp đồng đặt cọc: nhà đất số 33 phố T, quận X, thành phố H có thuộc quyền sở hữu của vợ chồng ông Huy không; nhà 37 phố B quận Đ có thuộc quyền sở hữu của bà Dung không.
- Các thỏa thuận cụ thể trong hợp đồng đặt cọc về nghĩa vụ có điều kiện để thực hiện việc chuyển đổi hay mua bán;
- Việc thực hiện thỏa thuận của các bên trong hợp đồng đặt cọc:
+ Việc không ký hợp đồng uỷ quyền cho ông Huy thay mặt bà Dung nhận tiền thuê nhà do lỗi của nguyên đơn hay bị đơn?
+ Thực tế ông Huy đã giải chấp ngôi nhà số 33 phố T, quận X, thành phố H chưa?
+ Có việc ông Huy tìm đối tác để cho thuê nhà số 33 phố T, quận X, thành phố H nhưng không bảo đảm được điều kiện thuê nhà và có việc vợ chồng ông Huy đã bán nhà số 33 phố T, quận X, thành phố H để lấy tiền mua nhà số 37 phố B, quận Đ, thành phố H theo đúng thoả thuận trong hợp đồng đặt cọc không?.

2 đ




 5

* Xác định tư cách đương sự trong vụ án:
- Nguyên đơn: ông Nguyễn Thanh Huy, giải thích theo k2 Đ 56 BLTTDS;
- Bị đơn: bà Phan Thùy Dung, giải thích theo k3 Đ 56 BLTTDS;
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: bà Lê Thị Hoa, giải thích theo k4 Đ56 BLTTDS
1 đ




 6

* Không đồng ý với ý kiến Hợp đồng đặt cọc vô hiệu do căn nhà 33 phố T, quận X là tài sản đang thế chấp tại Ngân hàng:
- Theo quy định tại k4 Đ 348 BLDS năm 2005 thì: “bên thế chấp tài sản không được bán, trao đổi, tặng cho tài sản thế chấp, trừ trường hợp bên nhận thế chấp đồng ý”.
- Hợp đồng xác lập giữa các bên là hợp đồng đặt cọc để bảo đảm việc giao kết và thực hiện hợp đồng chuyển đổi nhà, không phải là hợp đồng mua bán, trao đổi, tặng cho tài sản thế chấp nên không áp dụng khoản 4 Điều 348 BLDS năm 2005.
- Trong hợp đồng đặt cọc hai bên đã thoả thuận việc giải chấp tài sản: vợ chồng ông Huy có nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng để lấy lại giấy tờ sở hữu nhà, đất số 33 phố T, quận X, thành phố H nhằm thực hiện việc chuyển đổi tài sản theo thoả thuận.





1,5 đ





 7

* Tại phiên hòa giải lần thứ nhất mở ngày 20.05.2011, có mặt vợ chồng ông Huy, bà Dung:
- Do nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã có mặt đầy đủ nên Tòa án tiến hành hòa giải theo Điều 184 BLTTDS, vụ án không thuộc trường hợp không hoà giải được.
*  Hướng giải quyết yêu cầu của nguyên đơn:
+  Hợp đồng đặt cọc ngày 22/03/2010 giữa vợ chồng ông Huy và bà Dung có hiệu lực theo Đ122 BLDS năm 2005;
+ Bị đơn có hành vi vi phạm nghĩa vụ thoả thuận trong hợp đồng đặt cọc vì theo tình tiết thì bên nguyên đơn đã thực hiện đúng thoả thuận trong hợp đồng đặt cọc: sau khi ký hợp đồng đặt cọc vợ chồng ông Huy đã tiến hành giải chấp nhà số 33 phố T, quận X; đã tiến hành tìm đối tác cho thuê nhà nhưng không bảo đảm được điều kiện của hợp đồng về giá cả và các điều kiện khác như đã thoả thuận với bà Dung nên vợ chồng ông Huy đã bán nhà số 33 phố T, quận X để lấy tiền mua nhà số 37, phố B, quận Đ bằng tiền mặt như thoả thuận của vợ chồng ông Huy và bà Dung trong hợp đồng đặt cọc.
+ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Huy: Bà Dung có nghĩa vụ phải trả cho ông Huy và bà Hoa tiền đặt cọc 100 lượng vàng và phạt cọc 300 lượng vàng SJC theo điều 294, 358 BLDS năm 2005;



2 đ





Đề thi tốt nghiệp Đào tạo nghiệp vụ xét xử khóa 12 tại HN môn Hình sự

15:26:00 |
Đề thi tốt nghiệp Đào tạo nghiệp vụ xét xử khóa 12 tại HN môn Hình sự
Lý thuyết:

Câu 1: Anh/ chị hãy trình bày những điểm đặc thù của loại vụ án về các tội xâm phạm sở hữu?

Bài tập:
Ngày 12/6/2009, Quân và Đạt đến tiệm gội đầu của Lan để gội đầu. Do không hài lòng với thái độ phục vụ của nhân viên nên lúc thanh toán đã xảy ra xô xát. Lan lập tức gọi điện cho Huân (là người quen của Lan, chuyên sống bằng nghề đâm thuê, chém mướn) và chỉ ít phút sau, Huân đã ra lệnh cho đám đệ tử của mình là Tú, Kiên và Hoàng kéo đến cửa hàng của Lan để trừng trị 2 đối tượng trên.
Tại đây, cả bọn đã dùng côn gỗ, gậy gỗ đánh đập Quân và Đạt rất dã man. Bọn chúng bắt Quân và Đạt phải viết giấy nhận nợ với nội dung “đã vào quán hút hít và quậy phá, hiện không có tiền để thanh toán nên ghi nợ 20 triệu đồng”. Đạt, Quân kiên quyết không chịu viết giấy theo yêu cầu của chúng nên bị đánh đập cho đến khi tự tay Quân viết giấy nhận nợ để Quân, Đạt cùng ký tên, ghi rõ họ và tên từng người.
Nhận được tin báo về sự việc trên, cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H (thành phố trực thuộc Trung ương), đã vào cuộc và sau đó 2 ngày đã bắt được Huân, Tú, Kiên , Hoàng. Tại cơ quan điều tra, qua đấu tranh, khai thác và với những chứng cứ thu thập được, Huân, tú, Kiên, Hoàng đã khai báo về diễn biến sự việc như đã nêu ở trên.
Theo kết luận giám định pháp y, thương tích của Quân và Đạt như sau:
- Quân bị chấn thương sọ não, triệu chứng suy kiệt do bị đánh đập dã man, tý lệ thương tích 145;
- Đạt bị gãy 2 răng cửa, mặt phù nề, có nhiều vết bầm tím ở vùng vai trái, ngực và hông, tỉ lệ thương tích 10%.

Câu 2: Theo anh/ chị, với diễn biến sự việc như trên, có những người nào phạm tội và phạm tội gì, theo điều khoản nào của Bộ luật hình sự?

Tình tiết bổ sung
Cơ quan điều tra đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Tú, Kiên, Hoàng theo tội danh và điều khoản của BLHS theo quan điểm của anh/ chị ở câu hỏi 2, Viện kiểm sát đã phê chuẩn quyết định khởi tố này.
Trên cơ sở kế quả điểu tra, VKS đã ra Bản cáo trạng truy tố các bị can theo tội danh và điều khoản BLHS đã nên trên.
Trong thời gian chuẩn bị xét xử, Thẩm phán được phân công nghiên cứu hồ sơ vụ án nhận định CQĐT và VKS đã bỏ lọt tội phạm. Thẩm phán chủ tọa phiên tòa đã bào cáo để Chánh án ra QĐ khởi tố vụ án và Thẩm phán ra QĐ trả hồ sơ cho VKS để điều tra bổ sung.

Câu hỏi 3:
a. Nhận định nêu trên của Thảm phán có chính xác không? Tại sao?
b. Giả sử Thẩm phán nhận định như trên là đúng, anh/ chị có đồng ý với cách giải quyết của Thẩm phán không? Tại sao?

Tình tiết bổ sung
Trong quá trình nhận hồ sơ vụ án do Tòa án trả lại, VKS đề nghị Tòa án thay đổi biện pháp ngăn chặn với 1 số bị can trong vụ án từ biện pháp tạm giam sang biện pháp bảo lĩnh. Chán án Tóa án đã đồng ý và ra QĐ thay đổi biện pháp ngăn chặn theo đề nghị của VKS, còn các bị can khác vẫn bị tạm giam theo lệnh tạm giam của Tòa án.

Câu 4: Anh/ chị có đồng ý với cách thức giải quyết trên không? Tại sao?

Tình tiết bổ sung
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nhân than của các bị can như sau:\
Bị can Tú: Ngày 21/11/1995 bị Tòa án Quận Đ phạt 2 năm tù. Sau khi ra tù, vào ngày 12/12/1998 lại phạm tội mới. Hành vi phạm tội năm 1998 bị Tòa án Quận T tiến hành xét xử ngày 10/6/1999 và tuyên phạt Tú 5 năm tù. Các quyết định trong bản án Tú đã chấp hành xong.
Bị can Kiên: Ngày 10/10/2000 bị tòa án Quận H phạt 3 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 2 Điều 139 BLHS. Ngày 12/11/2004, Kiên bị Công an quận T xử phạt hành chính về hành vi gây rối trật tự công cộng. Các quyết định trong bản án và trong quyết định xử phạt vi phạm hành chính, Kiên đã chấp hành xong.
Bị can Hoàng: Ngày 1/12/2001 bị công an phương P xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc; 2/10/2003 bị Công an phường P xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản. Các quyết định xử phạt hành chính Hoàng đã chấp hành xong.

Câu 5: Anh/ chị hãy xác định tiền án, tiền sự của các bị can nêu trên; nêu rõ những điểm, khoản và điều luật cần áp dụng khi xác định nhân thân của các bị can.

Tình tiết bổ sung
Giả sử CQĐT đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can; VKS đã truy tố các bị can theo quan điểm của anh/ chị ở câu hỏi 2. Tòa án đã mở phiên tòa sơ thẩm xét xử vụ án nói trên.
Tại phiên tòa, bị cáo Kiên ngất xỉu phải đưa đi bệnh viện cấp cứu, không thể tiếp tục tham gia phiên tòa được. Luật sư bào chữa cho bị cáo Kiên yêu cầu HĐXX hoãn phiên tòa để đảm bảo quyền lợi cho Kiên. HĐXX có nhận định: Quá trình xét hỏi tại phiên tòa đã làm sáng tỏ vụ án, hơn nữa, mặc dù bị cáo Kiên không tiếp tụ tham gia phiên tòa nhưng đã có luật sư bào chữa cho bị cáo và vụ án vẫn còn có những bị cáo khác tham gia phiên tòa; quyền kháng cáo của bị cáo được tính từ ngày bị cáo được giao bản án. Với nhận định trên, HĐXX quyết định tiếp tục làm việc.

Cầu 6: Anh/ chị có đồng ý với cách giải quyết trên của HĐXX không? Tại sao?

Tình tiết bổ sung

Trong lúc HĐXX vào phòng nghị án đề bàn bạc về ý kiến của Luật sư thì bị cáo Hoàng đã bỏ trốn ra khỏi phòng xử án. HĐXX hỏi ý kiến của đại diện VKS tham gia phiên tòa về việc giải quyết tình huống này, KSV yêu cầu HĐXX phải tạm đình chỉ vụ án trên cho đến khi bị cáo Kiên phục hồi sức khỏe và bị cáo Hoàng bị bắt lại.

Câu 7: Anh/ chị có đồng ý với quan điểm của KSV không? Tại sao? Hãy trình bày rõ quan điểm cảu anh chi trong trường hợp này?

Tình tiết bổ sung
Giả sử Tòa án đã xét xử và tuyên án đối với các bị cáo theo tọi danh và điều khảon BLHS mà anh/ chị đã xác định ở câu 2.
Sau phiên tòa, các bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, người bị ahị kháng cáo xin tăng nặng hình phạt đối với các bị cáo.
Do hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng để xét xử các bị cáo đối với các bị cáo đã ở mức cáo nhất của khung hình phạt, HĐXX phúc thẩm nhận thấy cần tăng nặng mức hình phạt đối với các bị cáo nên quyết định sửa bản án theo hướng chuyển khung hình phạt nặng hơn và tăng mức hình phạt (trong khung hình phạt nặng hơn) đối với các bị cáo.

Câu hỏi 8: Anh/ chị có đồng ý với cách giải quyết nêu trên của HĐXX phúc thẩm không? Tại sao?

Tình tiết bổ sung
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Tú yêu cầu có người bào chữa và đề ngị HĐXX phúc thẩm hoãn phiên tòa để bị cáo mời luật sư.

Câu 9:HĐXX cần giải quyết vấn đề trên như thế nào?

Đề thi tốt nghiệp Đào tạo nghiệp vụ xét xử khóa 12 tại HN môn Dân sự

15:24:00 |
Đề thi tốt nghiệp Đào tạo nghiệp vụ xét xử khóa 12 tại HN môn Dân sự 
Vợ chồng ông Lộc, bà Hà cùng thường trú tại phường Sơn Lộc, thị xã S, thành phố H. Ngày 21/3/2009, vợ chồng ông Lộc bà Hà đã viết giấy cam kết bàn căn nhà thuộc quyền sở hữu của mình đối với căn nhà tại 269, 271 phố Chùa, thị xã S, thành phố H cho anh Bá (thường trú tại huyện P, thành phố H.). Trên cơ sở giấy cam kết này, ngày 22/3/2009, ông Lộc, bà Hà (bên B) và ông Bá (bên A) lập Hợp đồng mua bán nhà và đất với một số điểm đáng lưu ý sau:
- Bên B sẽ chuyển nhượng 210 m2 quyền sử dụng đất ở và căn nhà thuộc quyền sở hữu của mình tại 269, 271 phố Chùa cho bên A;
- Giá chuyển nhượng là 3 tỷ VNĐ, thanhh toán bằng tiền mặt. Bên A đặt cọc cho bên B 1 tỷ VNĐ ngay khi ký hợp đồng. Ngày 27/3/2009, hai bên se ra phòng công chứng Nhà nước tại thị xã S để công chứng hợp đồng và bên A sẽ thanh toán toàn bộ số tiền còn lại cho bên B tại phòng công chứng này.
- Hai bên cam kết thực hiện nghiêm túc hợp đồng. Nếu bên nào vi phạm sẽ phải hịu phạt 100% số tiền đặt cọc.
- Trong phần thông tin về chủ thể hợp đồng, phía bên B có đầy đủ họ và tên,, ngày tháng năm sinh, số CMND cảu cả ông Lộc và bà Hà nhưng tại phần chữ ký chỉ có chữ ký của ông Lộc. Toàn bộ nội dung hợp đồng do bên B soạn thảo.
Thực hiện hợp đồng nói trên, ngày 22/3/2009, ông Bá đã giao cho ông Lộc 1 tỷ VND, có giấy biên nhận. Tuy nhiên, đến ngày 27/3/2009, khi tiến hành giao tiền và làm thù tục công chứng hợp đồng thì ông Lộc, bà Hà không đến. Cho rằng, ông Lộc và bà Hà đã vi phạm hợp đồng nên anh Bá đã nhiều lần yêu cầu ông bà Lộc phải trả lại số tiền đặt cọc và chịu phạt 100% số tiền này nhưng ông bà Lộc không đồng ý. Ngày 6/7/2009, anh Bá đã làm đơn khởi kiện ông Lộc và bà Hà ra Tòa án nhân dân thị xã S, thành phố H vơi yêu cầu buộc ông Lộc, bà Hà phải chiuk phạt cọc 1 tỷ và hoàn trả 1 tỷ VNĐ đã đặt cọc. Cùng ngày, TAND thị xã S đã thụ lý đơn kiện cảu anh Bá.

Câu 1: Bằng những quy định của pháp lý, anh chị hãy phânn tích và đánh giá việc thụ lý vụ án củ TAND thị xã S?

Tình tiết bổ sung
Trong các bản khai tại Tòa, ông Lộc ko chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Bá bởi sau khi ký hợp đồng, cầm tiền đặt cọc thì bà Hà không đồng ý bán cho anh Bá. Ngày 23/3/2009, ông Lộc đã gọi điện cho anh Bá đến lấy lại tiền nhưng anh Bá không đến. Ông Lộc đã viết thư nhờ người chuyển anh Bá nhưng anh bá vẫn không đến. Vì thế, bà Hà đã đưa số tiền trên gửi tại Ngân Hàng Cửu Long. Ông Lộc, bà Hà sẵn sàng thanh toán cho anh Bá toàn bộ số tiền đặt cọc cũng như số tiền lãi gửi ở NH là 25 triệu.
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, ngày 23/3/2009, ông Lộc và bà Hà đã viết giấy giao kèo bán căn nhà cho bà Chín với giá 3 tỷ 500 triệu. Ngày 24/3/2009, hai bên đã công chứng hợp đồng chuyển nhượng.

Câu 2: 
- Hãy xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và điều luật nội dung được áp dụng để có thể giải quyết được vụ án?
- Bằng sự hiểu biết và qua hoạt động nghề nghiệp, hãy phân tích, đnáh giá ý nghĩa và khó khăn trong xác định QHPL tranh chấp của Thẩm phán đối với các vụ kiện dân sự nói chung, từ đó đưa ra 1 đề xuất kiến nghị sửa đổi BLTTDS?

Câu 3: Để có thể giải quyết được vụ kiện trên, theo anh/ chị Thẩm phán cần phải làm rõ những nội dung gì?

Câu 4: Xác định những người cần được triệu tập tham gia phiên tòa và tư cách của họ?

Tình tiết bổ sung

Trong quá trình chuẩn bị xét xử sơ thẩm, ông Lộc, bà Hà có nhờ LS Linh và Bình tham gia bảo vệ quyền lợi của mình. Tại phiên tòa sơ thẩm, sau khi được triệu tập hợp lệ, HĐXX nhận thấy vắng mặt LS Linh mà không có lí do chính đáng, chỉ LS Bình tham gia phiên tòa.

Câu 5: Là Thẩm phán, anh/ chị xử lý tình huống trên thế nào?

Tình tiết bổ sung
Tại phiên tòa, ông Lộc cho rằng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với anh Bá bị vô hiệuvới lí do bà Hà là người đồng chủ sở hữu căn nhà nói trên đã không ký hợp đồng. Hơn nữa, ngay sau khi ký HĐ, khi bà Hà không đồng ý bán cho anh Bá, ông Lộc đã nhiều lần yêu cầu anh Bá đến nhận lại tiền đặt cọc nhưng anh Bá không đến. Ông cho rằng, trong sự việc này, anh Bá không thiệt hại gì cả. Bà Hà thừa nhận trong Bản khai của mình là đã sử dụng 1 tỷ tiền đặt cọc mà ông Lộc nhận của anh Bá để giải chấp căn nhà tại Ngân hàng.
Tại phiên tòa, anh Bá cho rằng, phía bị đơn hoàn toàn có lỗi trong việc vi phạm hợp đồng. Mặc dù bà Hà không ký vào trong hợp đồng nhưng trước đó (ngày 22/3/2009), ông Lộc và bà Hà đã cùng ký vào Giấy cam kết chuyển nhượng quyền sử dụng đất và nhà. Trên cơ sở đó, hai bên mới lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và nhà với nội dung tương tự như Bản cam kết. Hơn nữa, trong thời hạn chờ để làm thủ tục chuyển nhượng tại phòng công chứng thì ngay lập tức, bên B đã bán lại căn nhà nói trên cho người khác với mức giá cao hơn. Như vậy, không thể nói là bà Hà không đồng ý bán nhà được.

Câu 6: Anh/chị hãy nhận định về tính hợp pháp/ bất hợp pháp đối với hợp đồng mua bán nhà giữa anh Bá và ông Lộc, bà Hà? Trên cơ sở đó xác định lỗi của từng bên hợp đồng?

Câu 7: Viết phần quyết định của bản án sơ thẩm đối với vụ án trên?

Đề thi và đáp án môn Kỹ năng giải quyết các vụ việc dân sự (HP1/KDTM-01) Thẩm phán khóa 13. đợt 2

17:45:00 |
 Đề thi và đáp án môn Kỹ năng giải quyết các vụ việc dân sự (HP1/KDTM-01) Thẩm phán khóa 13. đợt 2

HỌC VIỆN TƯ PHÁP
Môn học: Kỹ năng giải quyết các vụ việc dân sự
Đề thi: HP1/KDTM-01
Thời gian: 150 phút
Họ và tên:...............................................................................................................
Số báo danh:...........................................................................................................
Ngày 16/7/2011, công ty cổ phần Sơn J. đã gửi đến TAND thành phố H, tỉnh B đơn khởi kiện có nội dung như sau:
“…
Công ty cổ phần sơn J. được thành lập theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 02012 cấp ngày 20/3/2005, với chức năng chính là sản xuất và kinh doanh các sản phẩm sơn dùng cho xây dựng công nghiệp và dân dụng.
Chúng tôi làm đơn này khởi kiện đến bà Trần Thị Lan, giám đốc công ty TNHH Ngọc Lan, trụ sở tại đường Kim Đồng, thành phố H, tỉnh B, về việc thực hiện hợp đồng thương mại số 14/2009 ký kết giữa 2 công ty.
Theo thỏa thuận trong hợp đồng, bà Lan sẽ phải thanh toán tiền hàng cho công ty chúng tôi trong vòng 15 ngày kể từ ngày phát hành hóa đơn. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà Lan còn nợ công ty chúng tôi 5 lô hàng của các hóa đơn xuất ngày 15/5/2009, 1/6/2009, 15/6/2009, 1/7/2009, 15/7/2009. Tổng giá trị tiền hàng còn thiếu là 250.000.000 đồng. Chúng tôi đã nhiều lần yêu cầu bà Lan thanh toán nhưng bà Lan từ chối với lý do khó khăn.
Nay chúng tôi làm đơn này yêu cầu quý cơ quan hỗ trợ giải quyết sự việc trên theo quy định pháp luật hiện hành.”
Người ký đơn khởi kiện là ông Trần Hải Nam, giám đốc CTCP Sơn J.
Câu 1: (1,5 điểm)
Anh (chị) hãy xác định những tài liệu, giấy tờ mà CTCP Sơn J. phải nộp kèm theo đơn khởi kiện?
Câu 2: (1,5 điểm)
Anh (chị) có yêu cầu nguyên đơn sửa đổi, bổ sung nội dung gì trong đơn khởi kiện không?

Tình tiết bổ sung
Hợp đồng thương mại số 14/2009 ký kết giữa công ty cổ phần Sơn J. và công ty TNHH Ngọc Lan có những nội dung chính sau:
(i)                 Công ty TNHH Ngọc Lan (bên B) nhận làm đại lý các sản phẩm sơn cho CTCP Sơn J. (bên A) trên địa bàn thành phố H, tỉnh B.  
(ii)               Hàng tháng, bên A sẽ giao hàng cho bên B theo đơn đặt hàng mà bên B đưa ra. Bên B không được bán sản phẩm cạnh tranh khác. Giá bán hàng do bên A ấn định.
(iii)             Bên B được nhận hoa hồng 5% trên tổng số hóa đơn hàng tháng.
(iv)             Rủi ro tổn thất và quyền sở hữu hàng hóa đối với sản phẩm sẽ được chuyển giao cho bên B kể từ khi bên A giao hàng tại kho của bên B.
(v)               Thanh toán tiền hàng trong vòng 15 ngày kể từ ngày bên A phát hành hóa đơn giao hàng.
(vi)             Hợp đồng có hiệu lực từ 5/1/2009 đến 31/12/2009. Một bên có thể chấm dứt hợp đồng này trước thời hạn bằng cách thông báo bằng văn bản cho bên kia biết trước 15 ngày.
(vii)            Trong trường hợp tranh chấp phát sinh nếu 2 bên không tự giải quyết được sẽ đưa ra Tòa kinh tế Tòa án nhân dân tỉnh B giải quyết.
Hợp đồng do ông Nguyễn Quốc Tuấn, chủ tịch Hội đồng quản trị CTCP Sơn J. và bà Trần Thị Lan, giám đốc công ty TNHH Ngọc Lan ký.
Trong  Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 02010 cấp ngày 20/3/2005 của CTCP Sơn J. có ghi rõ: ngành nghề kinh doanh: các sản phẩm sơn công nghiệp và dân dụng; vốn điều lệ 5.000.000.000 đồng; người đại diện theo pháp luật là ông Nguyễn Quốc Tuấn, chủ tịch Hội đồng quản trị.
Câu 3: (1,5 điểm)
Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và chỉ rõ điều luật áp dụng?
Câu 4: (2 điểm)
Anh (chị) hãy phân tích các điều kiện thụ lý vụ án?
Tình tiết bổ sung
Trong đơn khởi kiện đã được sửa đổi hợp lệ, yêu cầu khởi kiện được CTCP Sơn J. đưa ra như sau: (i) nợ gốc 250.000.000 đồng; (ii) tiền lãi do chậm thanh toán với mức lãi suất là 1%/tháng x 250.000.000 đồng x 20 tháng = 50.000.000 đồng. Thời gian trả lãi tính từ tháng 9/2009 đến tháng 7/2011. (theo Biên bản ngày 20/9/2009, ghi nhận số tiền còn nợ là 250.000.000 đồng, có xác nhận của đại diện 2 công ty).
Tòa án nhân dân thành phố H. tỉnh B đã thụ lý vụ án.
Sau khi nhận được thông báo về việc thụ lý vụ án, bị đơn đã gửi công văn cho tòa án với nội dung sau: công ty TNHH Ngọc Lan thừa nhận số nợ gốc là 250.000.000 đồng; Công ty Ngọc Lan đã ký quỹ 40.000.000 đồng để đảm bảo thực hiện hợp đồng, nay chúng tôi yêu cầu khấu trừ với khoản nợ gốc trên kể từ tháng 9-2009. CTCP Sơn J. đã đơn phương chấm dứt hợp đồng nên gây thiệt hại cho công ty Ngọc Lan từ tháng 8/2009. Chúng tôi yêu cầu CTCP sơn J. bồi thường thiệt hại gồm có: ứng tiền lương cho nhân viên từ tháng 9/2009 đến tháng 12/2009 là 12.000.000 đồng;
Câu 5: (1,5 điểm)
 Yêu cầu trên của bị đơn có phải là yêu cầu phản tố không?
Câu 6: (2 điểm)
(i) Xác định những vấn đề cần làm rõ để giải quyết vụ án?
(ii) Xác định những chứng cứ mà nguyên đơn, bị đơn cung cấp để chứng minh cho yêu cầu của mình?
(Học viên được sử dụng văn bản pháp luật)

ĐÁP ÁN ĐỀ THI DÂN SỰ HP1- LỚP ĐÀO TẠO NGHIỆP VỤ XÉT XỬ 13.2
Câu hỏi
Đáp án
Điểm
Câu 1
*Những tài liệu, giấy tờ mà  người khởi kiện phải nộp kèm theo đơn khởi kiện:
- Các tài liệu chứng minh tư cách khởi kiện của CTCP Sơn J.: Giấy CNĐKKD của CTCP sơn J.; Giấy tờ chứng minh người đại diện hợp pháp ký đơn khởi kiện (nếu có), Điều lệ CTCP Sơn J.
- Các tài liệu chứng minh yêu cầu khởi kiện: Hợp đồng thương mại số 14/2009, phụ lục hợp đồng (nếu có); các hóa đơn xuất hàng ngày 15/5, 1/6, 15/6, 1/7, 15/7/2009; văn bản xin gia hạn thanh toán của công ty TNHH Ngọc Lan; các công văn trao đổi giữa các bên (nếu có); biên bản đối chiếu công nợ (nếu có).

1.5
Câu 2
* Yêu cầu người khởi kiện phải sửa đổi, bổ sung các nội dung:
- Về hình thức và nội dung đơn khởi kiện phải theo điều 164 BLTTDS và mẫu số 01 ban hành theo NQ02/2006/NQ-HĐTP. Lưu ý về ủy quyền khởi kiện theo công văn 38/KHXX.
-Xác định người bị kiện là công ty TNHH Ngọc Lan. Bà Lan là người đại diện theo PL.   
-Về yêu cầu khởi kiện cần xác định cụ thể  thanh toán bao nhiêu tiền nợ gốc, nếu có yêu cầu tính lãi thì lãi là bao nhiêu.

1.5
Câu 3
*Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và chỉ rõ điều luật áp dụng
- Tranh chấp hợp đồng đại lý mua bán hàng hóa. Lý do:
+ Các bên đã xác lập quan hệ hợp đồng số 14/2009
+ Bản chất của hợp đồng thương mại số 14/2009 là hợp đồng đại lý . Bị đơn vi phạm nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng này.
+Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là yêu cầu thanh toán tiền hàng từ HĐ số 14/2009
- Điều 166 -> Điều 177 Luật thương mại năm 2005

1.5
Câu 4
* Phân tích các điều kiện thụ lý vụ án
- Quyền khởi kiện: Công ty CP sơn J.  là chủ thể có tư cách pháp nhân, có quyền khởi kiện. K2 đ 77 LDN
-  Thẩm quyền: TAND thành phố H, tỉnh B có thẩm quyền. Lý do:
Theo vụ việc: đây là tranh chấp hợp đồng đại lý giữa 2 chủ thể có đăng ký kinh doanh và có mục đích lợi nhuận, do đó, theo điểm d K1 Đ29 là loại tranh chấp về KD,TM thuộc thẩm quyền của TA.
Theo cấp xét xử: điểm b K1 Đ 33.
Thẩm quyền theo lãnh thổ: điểm a K1 Đ35.
Thỏa thuận lựa chọn toà Kinh tế, TAND tỉnh B của các bên trong hợp đồng là trái quy định pháp luật về thẩm quyền nên thỏa thuận này vô hiệu.
- Thời hiệu khởi kiện:
Luật áp dụng tính thời hiệu khởi kiện là Đ 319 LTM năm 2005;
Đây là giao dịch dân sự mà hành vi vi phạm xảy ra ở nhiều thời điểm khác nhau do đó thời điểm bắt đầu thời hiệu khởi kiện được tính kể từ thời điểm xảy ra hành vi xâm phạm cuối cùng theo tiểu mục a6, mục 2.2, phần IV Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP hướng dẫn một số quy định trong Phần thứ nhất của BLTTDS.
Hành vi vi phạm của bị đơn xảy ra ở nhiều thời điểm khác nhau. Do đó, thời điểm quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm là ngày bị đơn có hành vi vi phạm cuối cùng: ngày 30/7/2009. Ngày bắt đầu tính thời hiệu khởi kiện là ngày tiếp theo ngày 30/7/2009. Đơn kiện được nộp ngày 16/7/2011 là vẫn còn thời hiệu khởi kiện.
- CTCP sơn J. nộp tạm ứng án phí theo quy định tại Đ 171 BLTTDS.

2.0














Câu 5
* Yêu cầu của bị đơn có phải là yêu cầu phản tố không?
- Yêu cầu khấu trừ 40.000.000 đồng tiền ký quỹ thực hiện hợp đồng thương mại số 14/2009 đối với khoản nợ 250.000.000 đ. Đây không phải là yêu cầu phản tố mà là ý kiến của bị đơn đối với yêu cầu của nguyên đơn.
- Yêu cầu bồi thường thiệt hại do nguyên đơn đơn phương chấm dứt hợp đồng từ tháng 8/2009 là yêu cầu phản tố nếu là tiền thuê nhân viên để thực hiện hợp đồng thương mại số 14/2009. Đây là yêu cầu độc lập của bị đơn, yêu cầu này không cùng với yêu cầu của nguyên đơn theo điểm a K 2 Đ 176 và hướng dẫn tại tiểu mục 11 Phần I NQ số 02/2006/NQ-HĐTP.

1.5
Câu 6
*Xác định những vấn đề cần làm rõ và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ của NĐ, BĐ:
- Về yêu cầu khởi kiện: Thanh toán tiền hàng còn thiếu là 250.000.000 đ.
+ Cần làm rõ: hiệu lực của hợp đồng thương mại số 14/2009 ?có hành vi vi phạm nghĩa vụ thanh toán số tiền 250.000.000 đ; giá trị của từng lô hàng theo hóa đơn đã xuất; thời gian; số tiền cụ thể mà công ty Ngọc Lan đã thanh toán của từng đợt giao hàng; số tiền thanh toán còn thiếu của mỗi lần giao hàng như thế nào? căn cứ tính mức lãi suất là 1%?
+ NĐ phải cung cấp chứng cứ chứng minh tính hợp pháp của Hợp đồng thương mại số 14/2009, phụ lục hợp đồng (nếu có), chứng cứ giao hàng ngày 15/5, 1/6, 15/6, 1/7, 15/7/2011, công văn xin gia hạn nợ của công ty TNHH Ngọc Lan, chứng cứ về việc đối chiếu công nợ ngày 20/9/2011 giữa 2 công ty, chứng cứ xác định căn cứ tính lãi suất 1%.
- Về yêu cầu của bị đơn:
+ Khấu trừ 40.000.000đ tiền kí quỹ với khoản nợ 250.000.000 đ: cần làm rõ các bên thỏa thuận như thế nào về ký quỹ? Thực tế thực hiện việc ký quỹ như thế nào? Số tiền ký quỹ cụ thể bao nhiêu?
+ Bồi thường thiệt hại tiền bù lương nhân viên 12.000.000đ: nguyên đơn có hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng số 14/2009 từ tháng 8/2009 không (không giao hàng)? Nếu có thì thủ tục đơn phương chấm dứt hợp đồng như thế nào? Đã khiếu nại trong thời hạn khiếu nại theo K2Đ318 LTM chưa? Vì sao công ty phải ứng trước tiền lương? Có phải ứng trước tiền lương cho số nhân viên để thực hiện hợp đồng số 14/2009?
+ BĐ phải cung cấp chứng cứ: chứng cứ xác nhận việc ký quỹ và thực hiện việc ký quỹ số tiền 40.000.000đ;  các chứng cứ về việc đặt hàng từ tháng 8/2009 của BĐ và việc vi phạm nghĩa vụ giao hàng của NĐ; chứng cứ về việc khiếu nại hoặc xác nhận là đã gọi điện yêu cầu giao hàng trong thời hạn khiếu nại; các chứng cứ chứng minh thiệt hại ứng trước tiền lương 12 triệu.







2

nhãn totunghinhsu

THÔNG TIN TỐ TỤNG HÌNH SỰ

banner

ĐÀO TẠO NGHIỆP VỤ XÉT XỬ TẠI TP. HỒ CHÍ MINH

VĂN BẢN MỚI BAN HÀNH

VĂN BẢN MỚI

TIN PHÁP ĐÌNH


THONG TIN TRANG NGHIỆP VỤ