Đang tải dữ liệu...
Thẩm Phán 13 Lớp B (thamphan13) /* Menu Horizontal top*/

Tạo banner chạy dọc hai bên

hinhlop1

hinhlop


Download Hình

Tiện ích bài đăng có ảnh thumbnail chạy ngang

Tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” – Một số vướng mắc trong thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện

16:11:00 |
Trong công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế hiện nay, bên cạnh những thành tựu quan trọng mà nước ta đã đạt được trên các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, thì mặt trái của nền kinh thị trường mang lại, đó là tình hình tội phạm diễn biến ngày càng phức tạp, nhiều loại tội phạm mới xuất hiện với tính chất, mức độ ngày càng tinh vi, nguy hiểm hơn. Trong số này, thì tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là một trong những tội phạm xảy ra khá phổ biến. Tuy nhiên, việc xét xử loại tội phạm này trong thực tiễn vẫn còn nhiều vướng mắc trong việc xác định tội danh, quyết định hình phạt, vấn đề "hình sự hóa" các quan hệ dân sự, quan hệ kinh tế và "phi hình sự hóa" trong thời gian qua cho thấy, các cơ quan áp dụng pháp luật đôi lúc còn tỏ ra lúng túng trong quá trình áp dụng, do đó, phần nào đã ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả, chất lượng công tác điều tra, truy tố, xét xử. Vì vậy, trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin được nêu ra một số hạn chế, bất cập trong quy định của pháp luật về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, qua đó, đề xuất một số ý kiến, để góp phần hoàn thiện hơn quy định về tội phạm này.
1. Khái niệm chung về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”
Trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, với xu hướng toàn cầu hóa và khu vực hóa diễn ra mạnh mẽ, dẫn đến các giao dịch dân sự, kinh doanh, thương mại phát sinh ngày càng phong phú và đa dạng. Do đó, việc nhận diện đúng ranh giới giữa các quan hệ này với hành vi phạm tội, từ đó mới có thể áp dụng pháp luật một cách đúng đắn, khách quan, đầy đủ và chính xác. Điều này có ý nghĩa rất quan trọng, nhằm làm lành mạnh hóa các quan hệ xã hội, góp phần bảo vệ kịp thời quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân, từng bước loại bỏ tình trạng được gọi là “hình sự hóa” các giao dịch dân sự, kinh doanh, thương mại hay “dân sự hóa” các hành vi phạm tội, cũng như sự nhầm lẫn giữa một số tội phạm có cấu thành giống nhau. Muốn vậy, chúng ta cần phải tìm hiểu về khái niệm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
Theo quy định tại Điều 140 Bộ Luật hình sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009 (BLHS) về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” thì:
“1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:
a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;
b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.
…”
Theo quy định trên thì hành vi phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là hành vi vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó, hoặc sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản. Giá trị tài sản bị chiếm đoạt phải có giá trị từ bốn triệu đồng trở lên thì mới phạm vào tội này, nếu dưới bốn triệu đồng thì phải hội đủ các điều kiện khác của điều luật như gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì mới phạm vào tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Quyết định thi hành án hình phạt tiền: Ai có thẩm quyền ban hành?

12:54:00 |
Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tố tụng hình sự, nhằm đưa bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án ra thi hành
Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tố tụng hình sự, nhằm đưa bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án ra thi hành trên thực tế theo trình tự thủ tục đã được quy định nhằm thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ mà tố tụng hình sự đặt ra. Trong đó, việc thi hành án hình phạt tiền cũng là một mặt, một bộ phận trong công tác thi hành án hình sự.
Tuy nhiên trong thực tiễn thì sau khi bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật thì một vấn đề nảy sinh đó là quyết định thi hành án hình phạt tiền (QĐTHAPT) thuộc thẩm quyền ra quyết định của Chánh án Toà án đã xét xử sơ thẩm hay của Thủ trưởng Cơ quan Thi hành án dân sự (THADS). Xung quanh vấn đề này hiện nay có 2 quan điểm với 2.
Một phiên tòa hình sự (Ảnh minh họa)
Quan điểm thứ nhất cho rằng thẩm quyền này thuộc về Thủ trưởng Cơ quan THADS bởi căn cứ vào các điều của Luật THADS. Cụ thể, điểm a khoản 1 Điều 23 quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan THADS là: “ Ra quyết định về thi hành án theo thẩm quyền;”.  Khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 35 quy định về thẩm quyền THA của các cơ quan THADS. Tại khoản 1 Điều 36 Luật THADS quy định: Thủ trưởng cơ quan THADS chủ động ra quyết định thi hành đối với phần bản án, quyết định sau đây… Hình phạt tiền, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, án phí.  Như vậy, pháp lụât về THADS quy định Thủ trưởng Cơ quan THADS có thẩm quyền ra QĐTHAPT, không phân biệt đó là hình phạt chính hay hình phạt bổ sung.

Lấy tài sản chung của vợ chồng để tiêu xài riêng có phải là trộm cắp tài sản?

12:24:00 |

Vợ chồng anh H chị M tự thân vận động bằng sức lao động của mình mà có được nhìn lên thì không bằng người ta, trông xuống thì cũng là ước mơ của nhiều cặp vợ chồng mới tách khỏi sự bao cấp của cha mẹ.

Anh H, chị M không nhiều con, nhưng cũng đủ nuôi có trai, có gái, nhà ở không to đẹp nhưng cũng chịu đựng được bão có cấp độ gió cấp 7, cấp 8, chi tiêu có tính toán nên cũng có đồng dư thừa phòng lúc ốm đau. Vài năm gần đây, chị M chi tiêu rộng rãi làm anh H phải lo lắng vì từ nghèo khó đi lên nên anh H không thể không quan tâm lo lắng đến việc chi tiêu của vợ. Anh H phát hiện chị M còn tham gia chơi lô, đề và đã nhắc nhở. Chị M nghe chồng nói vậy nhưng ít ngày sau vẫn hơi lô đề bình thường.
Anh H thấy lời nói không hiệu quả nên áp dụng biện pháp “cấm vận kinh tế” quản lý tiền chặt chẽ hơn, nhưng cấm vận kinh tế cũng không kết quả, vì chị M vay tiền của người quen để chơi. Chị M cũng có lúc trúng lô đề, cũng có lúc thua. Lúc thắng thì chi tiêu vô tư, còn lúc thua thì nghĩ cách gỡ để không thua và chu trình thắng, thua cứ diễn ra làm chị M không còn minh mẫn, mà thua nhiều hơn thắng. Theo đó là số tiền nợ tăng dần theo thời gian, từ một vài triệu tăng lên vài chục triệu, có lúc đến trăm triệu, nhưng lại giảm nợ còn năm, bảy chục triệu. 
Anh H không phải là cử nhân kinh tế, nhưng hay đọc sách nên anh H cũng có một số kiến thức về kinh tế cộng với trí tuệ “trời cho” nên anh tổ chức lao động sản xuất có kết quả mà hiệu quả nhất là thực hiện mối quan hệ giữa tích lũy với tiêu dùng nên hàng năm anh H vẫn tích được vài chục triệu. Số tiền này với một thương nhân không đáng kể, nhưng với hộ gia đình nông nghiệp lại đáng kể.
Đầu năm 2012 (sau Tết âm lịch Nhâm Thìn), anh H phát hiện tài sản tích lũy do “cấm vận kinh tế” mà có đã biến mất. Biết chắc là vợ anh, chị M đã lấy số tiền đó, anh H giữ nguyên “hiện trường” đi báo Công an với mục đích để “giáo dục” vợ bằng pháp luật. Cơ quan điều tra của Công an địa phương vào cuộc và chị M đã được gọi hỏi đầu tiên để làm rõ sự việc. Tại Cơ quan điều tra chị đã khai nhận lấy số tiền đó để trả nợ cho người mà chị đã vay để chơi lô đề. Số tiền nợ là xấp xỉ 90 triệu đồng. Chị M đã khai đầy đủ chi tiết việc lấy tiền đi trả nợ đó với Cơ quan điều tra và chị M bị truy tố về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 2 Điều 138 BLHS. Kết quả là chị M phải nhận bản án 3 năm tù giam.

Kháng nghị của Viện kiểm sát có đúng luật?

21:59:00 |
Viện kiểm sát chỉ truy tố một tội, Tòa án cũng xử như cáo trạng nhưng sau khi xét xử sơ thẩm, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp cho rằng bị cáo phạm hai tội chứ không phải một tội nên đã kháng nghị theo trình tự phúc thẩm đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để giao cho cấp sơ thẩm điều tra, xét xử lại theo thủ tục chung.
Theo cáo trạng của Viện kiểm sát thành phố Pleiku thì khoảng 23 giờ, thấy xe ô tô khách đi từ hướng huyện Đắk Đoa về thành phố Pleiku, Y Jêm và Bùi Bình Yên đi ra chặn đường buộc lái xe phải dừng lại; Yên cầm 1 cục vữa xi măng đến nói với anh Hưng (lái xe):“đưa tao 200.000 đồng rồi đi", anh Hưng nói: "Không có" thì Y Jêm lấy bình xịt hơi cay từ trong túi quần ra xịt vào mặt anh Hưng nhưng do bình xịt bị tắc, Yên giật bình xịt xịt vào mặt anh Hưng, làm anh Hưng gục mặt xuống vô lăng; Y Jêm bẻ 2 cần gạt nước vứt xuống đường và cùng Yên đập vỡ kính rồi cả hai chui vào trong xe; anh Hưng và anh Hùng (phụ xe) khống chế bắt Yên còn Y Jêm chạy thoát; 9 giờ sáng hôm sau Y Jêm đã đến Công an xã Chư Á đầu thú.
 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Pleiku xác định xe ô tô bị hư hỏng tổng giá trị thiệt hại là 3.400.000 đồng, nhưng chủ sở hữu xe yêu cầu bồi thường 11.200.000 đồng; anh Hưng bị thương nhẹ vào Bệnh viện khám và mua thuốc về uống. Anh Hưng từ chối việc giám định tổn hại sức khỏe; quá trình điều tra, gia đình Y Jêm và Bùi Bình Yên đã bồi thường cho chủ sở hữu xe 11.200.000 đồng; bồi thường cho anh Hưng 1.500.000 đồng, tiền chi phí chữa trị thương tích, anh Hưng không yêu cầu gì thêm.
Với nội dung sự việc như trên Viện kiểm sát Pleiku truy tố Y Jêm, Bùi Bình Yên về tội “Cướp tài sản” theo điểm d Khoản 2 Điều 133 Bộ luật Hình sự.

Án treo và những vướng mắc khi áp dụng

12:48:00 |

Án treo là một biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện. “Áp dụng đúng đắn các quy định về án treo sẽ có tác dụng tốt là không bắt người bị kết án phải cách ly khỏi xã hội mà cũng đạt được mục đích giáo dục, cải tạo họ trở thành người có ích cho xã hội; nhưng nếu áp dụng không đúng thì sẽ gây ảnh hưởng xấu về nhiều mặt như: không phát huy được tác dụng tích cực của án treo là khuyến khích người bị kết án tự cải tạo để trở thành người tốt, không thể hiện được tính công minh của pháp luật, không được nhân dân đồng tình ủng hộ, không đề cao được tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung"[1].
Đã có rất nhiều tác giả đề cập rất nhiều khía cạnh cả về lý luận và thực tiễn trong việc áp dụng án treo[2]. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều cách hiểu và vận dụng khác nhau đối với một số vấn đề trong trường hợp cho hưởng án treo. Trong phạm vi bài viết này, tác giả xin trao đổi vấn đề: có hay không việc tổng hợp hình phạt tù của các bản án cho hưởng án treo, thời gian thử thách mà người bị kết án đã chấp hành được tính như thế nào trong trường hợp này?

Chuyên đề 7: MỘT SỐ VẤN ĐỀ RÚT KINH NGHIỆM VỀ TỘI XÂM PHẠM TRẬT TỰ QUẢN LÝ KINH TẾ QUA CÔNG TÁC GIÁM ĐỐC THẨM, TÁI THẨM

23:00:00 |
I. KHÁI QUÁT VỀ TỘI XÂM PHẠM TRẬT TỰ QUẢN LÝ KINH TẾ VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHÚ Ý VỀ NHỮNG SỬA ĐỔI, BỔ SUNG
          1. Khái quát chung về tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế
          1.1. Khái niệm:
Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm hại nền kinh tế quốc dân, gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, lợi ích hợp pháp của tổ chức và của công dân qua việc vi phạm qui định của Nhà nước trong quản lý kinh tế.
1.2. Các đặc trưng chung:
- Khách thể của tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế: Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế xâm hại chế độ quản lý, điều hành nền kinh tế Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Xâm phạm quyền và lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
- Mặt khách quan của các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế: Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế thể hiện ở các hành vi cố ý vi phạm các quy định của Nhà nước bằng nhiều loại hành vi khác nhau.
Đa số các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế có cấu thành tội phạm hình thức. Một số tội, hậu quả nghiêm trọng là dấu hiệu bắt buộc. Ví dụ như Điều 165 Bộ luật hình sự (BLHS).
- Chủ thể của các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế: Người thực hiện các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế có thể là bất kỳ ai đạt độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có năng lực trách nhiệm hình sự.
- Mặt chủ quan của các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế: Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế thực hiện với hình thức lỗi cố ý trực tiếp.
1.3. Các tội phạm cụ thể:
1.3.1. Tội buôn lậu (Điều 153 BLHS)
- Dấu hiệu pháp lý: Khách thể của tội phạm này là sự xâm phạm chính sách quản lý nội thương và ngoại thương. Mặt khách quan của tội phạm được đặc trưng bởi các dấu hiệu sau:
+ Hành vi khách quan là hành vi buôn bán hàng hoá qua biên giới quốc gia trái phép.
+ Địa điểm phạm tội qua biên giới quốc gia là dấu hiệu bắt buộc.
+ Đối tượng tác động của tội phạm thuộc 3 nhóm sau: Hàng cấm phải có số lượng lớn hoặc đã bị xử phạt hành chính về một trong các hành vi từ Điều 153 đến Điều 161, hoặc đã bị kết án về một trong những tội này nhưng chưa được xoá án tích (Hàng cấm là đối tượng tác động của Điều 153 trừ các mặt hàng cấm đã quy định thành các tội độc lập như ma tuý, vũ khí quân dụng... vì các loại tài sản này đã được quy định thành các tội danh độc lập); vật phẩm thuộc di tích lịch sử văn hoá; hàng hoá khác phải có giá trị từ 100 triệu đồng trở lên (Nếu dưới 100 triệu đồng thì phải thoả mãn 1 trong 2 điều kiện: Đã bị xử phạt hành chính về 1 trong những hành vi được quy định từ Điều 153 đến Điều 161; hoặc đã bị kết án về một trong những tội này nhưng chưa được xoá án tích).
+ Chủ thể của tội phạm là bất kỳ ai có năng lực trách nhiệm hình sự.
+ Mặt chủ quan của tội phạm lỗi cố ý trực tiếp.
- Hình phạt: Các tình tiết định khung hàng cấm có số lượng lớn, rất lớn, đặc biệt lớn, thu lời bất chính lớn, chưa được hướng dẫn cụ thể, do đối tượng tác động của tội buôn lậu rất rộng, đa dạng. Mới chỉ có hướng dẫn về một số mặt hàng như thuốc lá ngoại, thuốc pháo…
1.3.2. Tội vận chuyển trái phép hàng hoá tiền tệ qua biến giới (Điều 154 BLHS).
Các dấu hiệu pháp lý và các tình tiết định khung giống điều 153 BLHS, chỉ khác điều 153 BLHS, ở hành vi khách quan đó là hành vi vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ qua biến giới.
1.3.3. Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm (Điều 155 BLHS)
- Khách thể của tội phạm là sự xâm phạm chính sách quản lý kinh tế của Nhà nước.
- Chủ thể của tội phạm là bất kỳ ai có năng lực trách nhiệm hình sự.
- Mặt chủ quan của tội phạm là lỗi cố ý trực tiếp.
- Mặt khách quan của tội phạm đặc trưng bởi các dấu hiệu sau: Hành vi khách quan được thực hiện bởi một trong bốn loại hành vi: Hành vi sản xuất hàng cấm; hành vi tàng trữ hàng cấm; hành vi vận chuyển hàng cấm; hành vi buôn bán hàng cấm.
- Đối tượng tác động của tội phạm là hàng cấm có số lượng lớn (trừ các mặt hàng cấm là ma tuý, động vật, thực vật rừng quý hiếm, vũ khí quân dụng...).
Danh mục các mặt hàng cấm theo Nghị định số 11/CP của Chính Phủ ban hành ngày 3/3/1999, đó là: Vật thuộc di tích lịch sử văn hoá; sản phẩm văn hoá phản động đồi truỵ, mê tín dị đoan; thuốc lá điếu sản xuất tại nước ngoài; thuốc chữa bệnh, dụng cụ y học chưa được phép sử dụng tại Việt Nam; đồ chơi trẻ em có hại tới giáo dục, nhân cách, sức khoẻ trẻ em hoặc tới an ninh, trật tự an toàn xã hội; pháo nổ, thuốc pháo.
Theo hướng dẫn tại Công văn số 81/2002 ngày 10/6/2002 của Chánh án TANDTC thì hàng cấm là thuốc lá ngoại: từ 1.500 đến 4.500 bao là số lượng lớn, từ 4.500 đến 13.500 bao là số lượng rất lớn và từ 13.500 bao trở lên là số lượng đặc biệt lớn.
Thông tư 01/96/BNV-VKSNDTC-TANDTC ngày 25/01/1996 hướng dẫn định lượng thuốc pháo và pháo nổ. Nếu hàng cấm có số lượng chưa lớn phải thoả mãn một trong ba điều kiện: Thu lời bất chính lớn; đã bị xử phạt hành chính về một trong những hành vi được quy định từ Điều 153 BLHS đến Điều 161 BLHS; đã bị kết án về một trong những tội này nhưng chưa được xoá án tích.

Chuyên đề 6: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ ÁN PHÍ HÌNH SỰ VÀ ÁN PHÍ DÂN SỰ TRONG VỤ ÁN HÌNH SỰ

22:57:00 |
Vấn đề án phí hình sự và án phí dân sự trong vụ án hình sự đã được quy định cụ thể trong Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án năm 2009 (sau đây gọi tắt là Pháp lệnh) và  Nghị quyết số 01/2012/NQ-HĐTP ngày 13-6-2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về án phí, lệ phí Tòa án (sau đây gọi tắt là Nghị quyết). Tuy nhiên, trong thực tiễn áp dụng, một số nội dung còn có nhiều cách hiểu khác nhau cần phải nghiên cứu, xem xét và thống nhất áp dụng.

I. CHẾ ĐỘ ÁN PHÍ HÌNH SỰ VÀ ÁN PHÍ DÂN SỰ TRONG VỤ ÁN HÌNH SỰ THEO QUY ĐỊNH TẠI PHÁP LỆNH VÀ NGHỊ QUYẾT
1. Các loại án phí trong vụ án hình sự và mức án phí
Theo quy định tại Điều 20 của Pháp lệnh thì án phí trong vụ án hình sự gồm 4 loại:
- Án phí hình sự sơ thẩm;
- Án phí hình sự phúc thẩm;
- Án phí dân sự sơ thẩm đối với trường hợp Tòa án giải quyết cả phần dân sự trong vụ án hình sự, bao gồm án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch (phân biệt án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại trong vụ án hình sự và án phí dân sự sơ thẩm của người có nghĩa vụ cấp dưỡng trong vụ án hình sự có giải quyết vấn đề cấp dưỡng được quy định tại Điều 14 Nghị quyết 01/2012/NQ-HĐTPTANDTC);
- Án phí dân sự phúc thẩm đối với trường hợp có kháng cáo về phần dân sự trong vụ án hình sự.
Về mức án phí: Theo quy định của Pháp lệnh thì mức án phí hình sự sơ thẩm, án phí hình sự phúc thẩm, án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch và án phí dân sự phúc thẩm đối với kháng cáo về phần dân sự trong vụ án hình sự đều chung một mức là 200.000 đồng. Đối với mức án phí dân sự có giá ngạch được chia thành nhiều loại khác nhau tùy thuộc vào giá trị của tài sản Tòa án giải quyết trong vụ án hình sự. Có thể xem bảng về mức án phí sơ thẩm đối với các vụ án về tranh chấp dân sự có giá ngạch sau đây:





Giá trị tài sản có tranh chấp
Mức án phí
a) Từ 4.000.000 đồng trở xuống
200.000 đồng
b) Từ trên 4.000.000 đồng đến 400.000.000 đồng
5% giá trị tài sản có tranh chấp
c) Từ trên 400.000.000 đồng đến 800.000.000 đồng
20.000.000 đồng + 4% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 400.000.000 đồng
d) Từ trên 800.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng
36.000.000 đồng + 3% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 800.000.000 đồng
đ) Từ trên 2.000.000.000 đồng đến 4.000.000.000 đồng
72.000.000 đồng + 2% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 2.000.000.000 đồng
e) Từ trên 4.000.000.000 đồng
112.000.000 đồng + 0,1% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 4.000.000.000 đồng.

2. Nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí trong vụ án hình sự
Theo quy định tại Điều 21 của Pháp lệnh thì: Bị cáo và các đương sự trong vụ án hình sự không phải nộp tiền tạm ứng án phí hình sự sơ thẩm, tiền tạm ứng án phí hình sự phúc thẩm và tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm. Các đương sự trong vụ án hình sự kháng cáo về phần dân sự phải nộp tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm, trừ trường hợp không phải nộp tiền tạm ứng án phí hoặc được miễn nộp tiền tạm ứng án phí theo quy định của Pháp lệnh. Mức tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm bằng mức án phí dân sự phúc thẩm là 200.000 đồng. Thời hạn nộp tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm là 10 ngày kể từ ngày nhận được thông báo của Tòa án cấp sơ thẩm về việc nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm.
Pháp lệnh không quy định rõ nếu bị cáo (có được xác định là đương sự không) kháng cáo phần dân sự sơ thẩm thì có phải đóng tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm không? Nếu bị cáo làm đơn kháng cáo phần dân sự sơ thẩm nhưng không đóng tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm thì Tòa án giải quyết như thế nào? Để giải thích rõ hơn quy định của Pháp lệnh, khoản 1 Điều 8 của Nghị quyết đã quy định các đương sự trong vụ án hình sự bao gồm người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự. Và khoản 2 Điều 8: “Trong mọi trường hợp, bị cáo kháng cáo về phần dân sự trong vụ án hình sự không phải nộp tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm”.

Chuyên đề 5: QUY ĐỊNH VỀ XÉT XỬ ÁN HÌNH SỰ ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN RÚT KINH NGHIỆM

22:53:00 |
I. NHẬN THỨC CHUNG VỀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN VÀ CHÍNH SÁCH HÌNH SỰ ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI
1. Người chưa thành niên và nguyên tắc xác định tuổi người chưa thành niên
Hiện nay, kể cả luật pháp quốc tế và luật pháp Việt Nam chưa đưa ra một khái niệm cụ thể về người chưa thành niên. Trong nhiều văn bản pháp luật Quốc tế về người chưa thành niên và quyền trẻ em cũng như các văn bản pháp luật Việt Nam như Quy tắc của Liên Hợp quốc về bảo vệ người chưa thành niên, Công ước Quốc tế về quyền trẻ em năm 1999, Quy tắc Bắc Kinh (1985), Hướng dẫn Riat (1990), Bộ luật dân sự năm 2005 (Điều 18), Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004... đều chỉ quy định định nghĩa người chưa thành niên theo độ tuổi, cụ thể: “người chưa thành niên là những người dưới 18 tuổi”. Tại các văn bản này, khái niệm người chưa thành niên bao gồm cả khái niệm trẻ em.
1.1. Khái niệm người chưa thành niên phạm tội và tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự
Khái niệm người chưa thành niên và khái niệm người chưa thành niên phạm tội là hai khái niệm không đồng nhất vì theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam thì không phải người chưa thành niên nào cũng trở thành chủ thể của tội phạm.
Theo quy định tại Điều 12 và Điều 68 Bộ luật hình sự thì chỉ người nào từ đủ 14 tuổi trở lên mới có thể phải chịu trách nhiệm hình sự[1]. Như vậy, chúng ta có thể đưa ra khái niệm người chưa thành niên phạm tội như sau: Người chưa thành niên phạm tội là người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 18 tuổi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội là tội phạm được quy định trong Bộ luật Hình sự.
Như vậy, khái niệm người chưa thành niên rộng hơn khái niệm người chưa thành niên phạm tội.
1.2. Nguyên tắc xác định tuổi người chưa thành niên theo Thông tư liên tịch số 01/2011/TTLT/VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH  ngày 12-7-2011 trong các trường hợp cụ thể
Căn cứ Thông tư số 01/2011/TTLT/VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH  ngày 12-7-2011 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội thì tuổi của bị cáo là người chưa thành niên do cơ quan tiến hành tố tụng xác định theo quy định của pháp luật. Trường hợp đã áp dụng các biện pháp hợp pháp mà vẫn không xác định được chính xác ngày, tháng, năm sinh của bị can, bị cáo thì tuổi của họ được xác định như sau:
- Trường hợp xác định được tháng sinh cụ thể nhưng không xác định được ngày thì trong tháng đó lấy ngày cuối cùng của tháng đó làm ngày sinh của bị can, bị cáo.
- Trường hợp xác định được quý cụ thể của năm, nhưng không xác định được ngày tháng nào trong quý đó thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong quý đó làm ngày sinh của bị can, bị cáo;
- Trường hợp xác định được cụ thể nửa đầu năm hay nửa cuối năm, nhưng không xác định được ngày tháng nào trong nửa đầu năm hoặc nửa cuối năm đó thì lấy ngày 30 tháng 6 hoặc ngày 31 tháng 12 tương ứng của năm đó làm ngày sinh của bị can, bị cáo;
- Trường hợp xác định được năm sinh cụ thể nhưng không xác định được ngày tháng sinh của bị can, bị cáo thì lấy ngày 31 tháng 12 của năm đó làm ngày sinh của bị can, bị cáo.
- Trường hợp không xác định được năm sinh của bị can, bị cáo là người chưa thành niên thì phải tiến hành giám định để xác định tuổi của họ
2. Đặc điểm chung của người chưa thành niên và chính sách hình sự của Nhà nước đối với người chưa thành niên phạm tội
2.1. Đặc điểm chung của người chưa thành niên
Người chưa thành niên là người đang trong quá trình phát triển và hoàn thiện về thể chất, tâm sinh lý và nhân cách sống. Người ở độ tuổi này chưa phát triển đầy đủ, toàn diện về thể lực, trí tuệ, tinh thần, nhân cách; có sự hạn chế về kinh nghiệm sống, kiến thức pháp luật, dễ bị tác động, chi phối bởi điều kiện sống; chưa thể nhận thức đầy đủ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà mình thực hiện, khả năng tự kiềm chế chưa tốt. Trong tư duy của người ở độ tuổi này bắt đầu hình thành ý thức độc lập trong việc quyết định cuộc sống riêng của mình, bắt đầu tự độc lập trong hành động, suy nghĩ, ứng xử và thiết lập các mối quan hệ riêng biệt, không muốn nghe theo sự sắp đặt của cha mẹ, nên dễ bị người khác kích động, dụ dỗ, lôi kéo vào việc thực hiện những hành vi trái pháp luật.
2.2. Chính sách hình sự của Nhà nước đối với người chưa thành niên phạm tội
Xuất phát từ đặc điểm tâm - sinh lý của người chưa thành niên, chính sách nhân đạo của Đảng, Nhà nước; trên cơ sở niềm tin vào khả năng cải tạo, giáo dục người chưa thành niên phạm tội giúp họ tích cực cải tạo, sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh để trở thành người có ích cho xã hội. Các nhà làm luật Việt Nam không coi người chưa thành niên phạm tội có năng lực trách nhiệm hình sự như người đã thành niên phạm tội và có chính sách hình sự riêng đối với người chưa thành niên phạm tội, lấy việc vận động, giáo dục người chưa thành niên làm nền tảng. Chính sách đó được thể hiện rõ nét và tập trung nhất tại Điều 69 Bộ luật Hình sự, đó là:

Chuyên đề 4: LUẬT THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ VÀ VĂN BẢN HƯỚNG DẪN THI HÀNH

22:47:00 |
PHẦN THỨ NHẤT:
NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ
         
I. TỔNG QUAN VỀ LUẬT THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ
1. Thực trạng công tác thi hành án hình sự trước khi ban hành Luật Thi hành án hình sự
Thi hành án hình sự liên quan trực tiếp đến bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội; góp phần bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa. Xác định thi hành án hình sự là công tác quan trọng nên Nhà nước ta đặc biệt quan tâm và đã ban hành văn bản quy phạm pháp luật làm cơ sở cho hoạt động này như: Pháp lệnh thi hành án phạt tù năm 1993 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2007; Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009; Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003. Trên cơ sở pháp lý đó, trong thời gian qua hoạt động thi hành án hình sự đã được tổ chức, thực hiện bảo đảm sự nghiêm minh, khoan hồng, nhân đạo, góp phần đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội, phục vụ yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Tuy nhiên, trước yêu cầu mới của thực tiễn, hướng đến mục tiêu xây dựng   Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, pháp luật về thi hành án hình sự đã bộc lộ những hạn chế, không được quy định thống nhất mà nằm rải rác ở nhiều văn bản khác nhau. Điều này gây khó khăn cho thực tiễn thi hành án hình sự. Công tác thi hành án hình sự còn gặp nhiều khó khăn. Báo cáo năm 1994-1995 của Tòa án nhân dân tối cao trước Quốc hội đã thừa nhận có hơn 8.000 người bị án không rõ vì lý do gì vẫn sống ngoài vòng pháp luật, chưa bị bắt đi thụ hình. Như tại thành phố Hồ Chí Minh: năm 1999 số lượng người phải thụ án là 13.875 người, nhưng chỉ giải quyết được 10.691 người, còn 3.184 người phải thụ án chưa giải quyết; năm 2000 có 13.521 người phải thụ án, nhưng chỉ mới giải quyết được 10.767 người, còn 2.754 người phải thụ án chưa bị bắt đi cải tạo ở các trại giam.
Những nguyên nhân chủ yếu làm giảm hiệu quả của hoạt động thi hành án hình sự:
1, Ở giai đoạn đưa bản án ra thi hành còn chậm trễ ở khâu thủ tục giấy tờ hành chính, thiếu sự phối hợp đồng bộ giữa cơ quan xét xử và cơ quan thi hành án. Đây là nguyên nhân chính để tình trạng rất nhiều bị án có án phạt tù vẫn đang còn ở ngoài xã hội, tạo ra mối nghi ngờ của nhân dân về tính công bằng và nghiêm minh của pháp luật, đồng thời tạo ra sự đe dọa mất an ninh và trật tự xã hội.
2, Việc quản lý Nhà nước về thi hành án thiếu tập trung do công tác thi hành án còn ở nhiều cơ quan chức năng khác nhau.Theo quy định của Pháp lệnh Thi hành án phạt tù thì Chính phủ thống nhất quản lý Nhà nước về công tác thi hành án trong phạm vi cả nước. Bộ Công an, Bộ Quốc phòng giúp Chính phủ quản lý công tác thi hành án phạt tù và tổ chức công tác thi hành án phạt tù. Tuy vậy trong thực tế công tác thi hành án theo pháp luật hiện hành còn được giao cho nhiều cơ quan khác nữa cùng tham gia, thực hiện như Tòa án nhân dân, UBND các cấp, cơ quan, tổ chức nơi người bị kết án cư trú, cơ quan y tế thi hành quyết định của Tòa án về bắt buộc chữa bệnh nhưng lại không có một cơ quan chuyên trách nào được giao nhiệm vụ theo dõi, quản lý việc thi hành đó. Do vậy, hiệu lực của các bản án, và quyết định của Tòa án trong thực tế không có tác dụng cao, không kết hợp thi hành án phạt tù với các hình phạt bổ sung khác nên công tác thi hành án và mục đích của hình phạt cũng như các biện pháp tư pháp khác không đạt được kết quả.
3, Việc theo dõi và quản lý phạm nhân còn chồng chéo, kém hiệu quả, trên thực tế đã tồn tại tình trạng là sau khi ra quyết định thi hành án phạt tù, Tòa án hoàn toàn không thể biết rõ được phạm nhân được đưa đi cải tạo ở đâu, bởi vì trên cơ sở tiếp nhận bị án, cơ quan thi hành án của Bộ Công an lập danh sách bị án, ra quyết định đưa họ đi cải tạo tại các trại cải tạo do mình quản lý trên cả nước, đến khi thực hiện thủ tục xét giảm án, tha tù (quy định tại Điều 58, Điều 59, Điều 61 của Bộ luật hình sự 1999) thì về nguyên tắc - theo quy định tại khoản 1, Điều 238 Bộ luật Tố tụng hình sự và Thông tư liên ngành số 04-89/TTLN ngày 15-08-1989 của TATC-VKSTC-BNV việc xét giảm thời hạn thi hành do Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi người bị kết án chấp hành hình phạt tù căn cứ vào hồ sơ đề nghị của Trại quản lý và cải tạo phạm nhân, mà có thể Tòa án, Viện kiểm sát nơi này hoàn toàn không thể biết được bị án này đã chấp hành nghiêm chỉnh các nghĩa vụ khác do Tòa án nơi đã tuyên án hoặc ra quyết định thi hành án, đồng thời luật cũng không có quy định là gửi bản sao quyết định giảm án, tha tù cho các Tòa án, Viện kiểm sát nơi này biết .
4, Thông tư liên ngành số 04-89/TTLN chỉ quy định 02 điều kiện để xét giảm là thời hạn chấp hành hình phạt và đã quyết tâm cải tạo tốt như tích cực hối lỗi, tích cực lao động, học tập, nghiêm chỉnh chấp hành chế độ nội quy của Trại nhưng không quy định một số điều kiện về việc thực hiện trách nhiệm khác trong bản án đã tuyên. Điều này dẫn đến tình trạng là những người được xét giảm án, tha tù trước thời hạn, sau khi ra trại, đã không nghiêm chỉnh thi hành các nghĩa vụ bồi thường thiệt hại, trách nhiệm dân sự trong bản án hình sự, chưa thi hành các hình phạt tiền…, coi như việc mình đi tù đã thay cho việc thực hiện các nghĩa vụ đó, vì thế đã làm cho lòng tin của nhân dân bị suy giảm phần nào.

Chuyên đề 3: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TỘI PHẠM KHỦNG BỐ VÀ TÀI TRỢ KHỦNG BỐ

22:17:00 |
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo Bộ luật hình sự năm 1999, thì tội khủng bố được quy định tại Điều 84 thuộc Chương “Các tội xâm phạm an ninh quốc gia”. Dấu hiệu bắt buộc trong mặt chủ quan của tội phạm là phải có mục đích nhằm chống chính quyền nhân dân. Khách thể của tội phạm chính là việc xâm hại đến sự vững mạnh của chính quyền nhân dân, an ninh đối nội, an ninh đối ngoại, tính mạng, sức khỏe, tự do thân thể của con người.
- Hành vi khách quan của tội phạm này được biểu hiện: Xâm phạm hoặc đe dọa xâm phạm tính mạng, xâm phạm tự do thân thể, sức khoẻ hoặc những hành vi khác uy hiếp tinh thần của con người; đối tượng tác động của tội phạm chỉ có thể là con người cụ thể mà không phải là tài sản hoặc các vật khác và mục đích phải là chống chính quyền nhân dân, nếu không phải nhằm mục đích chống chính quyền nhân dân thì sẽ bị điều tra, truy tố, xét xử theo các tội danh khác tương ứng quy định trong Bộ luật hình sự (BLHS).
Hành vi khủng bố là một trong những loại hành vi đặc biệt nguy hiểm, xâm phạm tính mạng, sức khoẻ của con người và đe dọa nghiêm trọng đến an ninh, trật tự của các quốc gia và cả cộng đồng quốc tế. Tuy nhiên, việc quy định tội danh khủng bố như trên chỉ phù hợp khi mà quan hệ hợp tác của Việt Nam với các nước về phòng, chống khủng bố còn hạn chế. Theo quy định tại Điều 84 BLHS thì đối tượng bị khủng bố gây thiệt hại có thể là tính mạng, sức khỏe, tự do thân thể và tinh thần hoặc sự vững mạnh của chính quyền nhà nước. Song BLHS chỉ có một tội danh về khủng bố là chưa toàn diện, thiếu cơ sở pháp lý để đấu tranh với loại tội phạm này. Thực tế cho thấy, không phải tất cả những trường hợp khủng bố xâm hại đến tính mạng, sức khỏe, tự do thân thể và tinh thần của người khác đều  nhằm chống chính quyền nhân dân, mà có những trường hợp khủng bố để trả thù mang tính cá nhân, gây sự hoảng sợ cho người bị khủng bố như  những trường hợp gửi vòng hoa, gửi quan tài, treo đầu chó, nhắn tin đe dọa, phá hủy, chiếm giữ tài sản… Nếu những hành vi đó lại quy định trong Chương “các tội xâm phạm an ninh quốc gia” là không phù hợp với quan niệm của cộng đồng quốc tế về khủng bố và tội phạm khủng bố nên đã gây nhiều khó khăn cho cơ quan chức năng trong hợp tác quốc tế về phòng, chống khủng bố và cũng rất khó khăn khi xử lý bằng các quy định khác trong BLHS như hành vi khủng bố bằng tin nhắn điện thoại, gửi vòng hoa, quan tài... Chính vì những quy định chưa phù hợp như vậy, nên thời gian qua đã xảy ra một số vụ khủng bố nhằm chống lại Nhà nước Việt Nam, đặc biệt là chống lại các Cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài, kể cả tại thủ đô của một số nước ASEAN. Việt Nam đã yêu cầu các nước xử lý thỏa đáng các vụ khủng bố đó hoặc trao các đối tượng khủng bố để Việt Nam xét xử, song yêu cầu dẫn độ của chúng ta không được đáp ứng thỏa đáng với lý do là quy định về tội danh khủng bố của Việt Nam còn chưa chặt chẽ.
Nhận thức được những bất cập trong các quy định tại Điều 84 BLHS và để phù hợp với quan niệm của cộng đồng quốc tế về khủng bố và tội phạm khủng bố, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2009 đã sửa Điều 84 quy định về “Tội khủng bố” thành “Tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân” vẫn nằm trong Chương XI - Các tội xâm phạm an ninh quốc gia, bổ sung Điều 230a quy định “Tội khủng bố” và Điều 230b quy định “Tội tài trợ khủng bố” nằm trong Chương XIX - Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng. Việc sửa đổi, bổ sung các quy định về trách nhiệm hình sự đối với các hành vi khủng bố của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS đã tạo cơ sở pháp lý phân biệt rõ chỉ có những hành vi khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân mới quy định tại Chương “Xâm phạm an ninh quốc gia” còn lại các hành vi khủng bố khác sẽ xử lý theo tội khủng bố tại chương “Xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng”. Quy định như vậy cũng tạo cơ sở pháp lý cho hợp tác đấu tranh chống khủng bố, khẳng định tính chủ động của Việt Nam trong cuộc chiến chống khủng bố toàn cầu cũng như đáp ứng yêu cầu thực tiễn phòng ngừa, ngăn chặn khủng bố và hợp tác quốc tế về chống khủng bố; đảm bảo sự tương thích với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, đặc biệt là Công ước New York năm 1999 về chống các hành vi tài trợ khủng bố.
Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi sẽ nêu lên những vấn đề chung về tội khủng bố, tài trợ khủng bố, qua đó đề xuất những kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật phòng, chống khủng bố ở nước ta.

Chuyên đề 2: LUẬT PHÒNG CHỐNG MUA BÁN NGƯỜI, THỰC TIỄN XÉT XỬ CÁC TỘI LIÊN QUAN ĐẾN MUA BÁN NGƯỜI

21:41:00 |
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo Bộ luật hình sự năm 1999, thì tội khủng bố được quy định tại Điều 84 thuộc Chương “Các tội xâm phạm an ninh quốc gia”. Dấu hiệu bắt buộc trong mặt chủ quan của tội phạm là phải có mục đích nhằm chống chính quyền nhân dân. Khách thể của tội phạm chính là việc xâm hại đến sự vững mạnh của chính quyền nhân dân, an ninh đối nội, an ninh đối ngoại, tính mạng, sức khỏe, tự do thân thể của con người.
- Hành vi khách quan của tội phạm này được biểu hiện: Xâm phạm hoặc đe dọa xâm phạm tính mạng, xâm phạm tự do thân thể, sức khoẻ hoặc những hành vi khác uy hiếp tinh thần của con người; đối tượng tác động của tội phạm chỉ có thể là con người cụ thể mà không phải là tài sản hoặc các vật khác và mục đích phải là chống chính quyền nhân dân, nếu không phải nhằm mục đích chống chính quyền nhân dân thì sẽ bị điều tra, truy tố, xét xử theo các tội danh khác tương ứng quy định trong Bộ luật hình sự (BLHS).
Hành vi khủng bố là một trong những loại hành vi đặc biệt nguy hiểm, xâm phạm tính mạng, sức khoẻ của con người và đe dọa nghiêm trọng đến an ninh, trật tự của các quốc gia và cả cộng đồng quốc tế. Tuy nhiên, việc quy định tội danh khủng bố như trên chỉ phù hợp khi mà quan hệ hợp tác của Việt Nam với các nước về phòng, chống khủng bố còn hạn chế. Theo quy định tại Điều 84 BLHS thì đối tượng bị khủng bố gây thiệt hại có thể là tính mạng, sức khỏe, tự do thân thể và tinh thần hoặc sự vững mạnh của chính quyền nhà nước. Song BLHS chỉ có một tội danh về khủng bố là chưa toàn diện, thiếu cơ sở pháp lý để đấu tranh với loại tội phạm này. Thực tế cho thấy, không phải tất cả những trường hợp khủng bố xâm hại đến tính mạng, sức khỏe, tự do thân thể và tinh thần của người khác đều  nhằm chống chính quyền nhân dân, mà có những trường hợp khủng bố để trả thù mang tính cá nhân, gây sự hoảng sợ cho người bị khủng bố như  những trường hợp gửi vòng hoa, gửi quan tài, treo đầu chó, nhắn tin đe dọa, phá hủy, chiếm giữ tài sản… Nếu những hành vi đó lại quy định trong Chương “các tội xâm phạm an ninh quốc gia” là không phù hợp với quan niệm của cộng đồng quốc tế về khủng bố và tội phạm khủng bố nên đã gây nhiều khó khăn cho cơ quan chức năng trong hợp tác quốc tế về phòng, chống khủng bố và cũng rất khó khăn khi xử lý bằng các quy định khác trong BLHS như hành vi khủng bố bằng tin nhắn điện thoại, gửi vòng hoa, quan tài... Chính vì những quy định chưa phù hợp như vậy, nên thời gian qua đã xảy ra một số vụ khủng bố nhằm chống lại Nhà nước Việt Nam, đặc biệt là chống lại các Cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài, kể cả tại thủ đô của một số nước ASEAN. Việt Nam đã yêu cầu các nước xử lý thỏa đáng các vụ khủng bố đó hoặc trao các đối tượng khủng bố để Việt Nam xét xử, song yêu cầu dẫn độ của chúng ta không được đáp ứng thỏa đáng với lý do là quy định về tội danh khủng bố của Việt Nam còn chưa chặt chẽ.
Nhận thức được những bất cập trong các quy định tại Điều 84 BLHS và để phù hợp với quan niệm của cộng đồng quốc tế về khủng bố và tội phạm khủng bố, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2009 đã sửa Điều 84 quy định về “Tội khủng bố” thành “Tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân” vẫn nằm trong Chương XI - Các tội xâm phạm an ninh quốc gia, bổ sung Điều 230a quy định “Tội khủng bố” và Điều 230b quy định “Tội tài trợ khủng bố” nằm trong Chương XIX - Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng. Việc sửa đổi, bổ sung các quy định về trách nhiệm hình sự đối với các hành vi khủng bố của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS đã tạo cơ sở pháp lý phân biệt rõ chỉ có những hành vi khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân mới quy định tại Chương “Xâm phạm an ninh quốc gia” còn lại các hành vi khủng bố khác sẽ xử lý theo tội khủng bố tại chương “Xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng”. Quy định như vậy cũng tạo cơ sở pháp lý cho hợp tác đấu tranh chống khủng bố, khẳng định tính chủ động của Việt Nam trong cuộc chiến chống khủng bố toàn cầu cũng như đáp ứng yêu cầu thực tiễn phòng ngừa, ngăn chặn khủng bố và hợp tác quốc tế về chống khủng bố; đảm bảo sự tương thích với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, đặc biệt là Công ước New York năm 1999 về chống các hành vi tài trợ khủng bố.
Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi sẽ nêu lên những vấn đề chung về tội khủng bố, tài trợ khủng bố, qua đó đề xuất những kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật phòng, chống khủng bố ở nước ta.
II. CÁC DẤU HIỆU PHÁP LÝ HÌNH SỰ ĐẶC TRƯNG CỦA TỘI “KHỦNG BỔ” ĐIỀU 230A VÀ TỘI “TÀI TRỢ KHỦNG BỐ” ĐIỀU 230B TRONG LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU BLHS NĂM 2009.
1. Tội khủng bố:
Tại Điều 230a “Tội khủng bố” được quy định như sau:
“1. Người nào nhằm gây ra tình trạng hoảng sợ trong công chúng mà xâm phạm tính mạng của người khác hoặc phá hủy tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình.
2. Phạm tội trong trường hợp xâm phạm tự do thân thể, sức khỏe hoặc chiếm giữ, làm hư hại tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.
3. Phạm tội trong trường hợp đe dọa thực hiện một trong các hành vi quy định tại khoản 1 Điều này hoặc có những hành vi uy hiếp tinh thần, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.
4. Người phạm tội còn có thể bị phạt quản chế, cấm cư trú từ một năm đến năm năm, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.  
Sau khi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều BLHS năm 1999 đã tội phạm hóa hành vi “khủng bố” và hành vi “tài trợ khung bố” thành các tội danh độc lập thì các Cơ quan Nội chính Trung ương đã ban hành Thông tư số 06/2012/TTLT/BCA - BQP - BTP - NHNNVN - VKSNDTC - TANDTC, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao ngày 05/5/2012 hướng dẫn cụ thể và chi tiết về tội khủng bố và tài trợ khủng bố theo đó các dấu hiệu pháp lý của hai tội này được thể hiện như sau:
a. Khách thể của tội khủng bố:
Khách thể loại của tội khủng bố là an toàn công cộng và trật tự công cộng, còn khách thể trực tiếp có thể là xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, tài sản, quyền tự do thân thể và tinh thần của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
b. Về mặt chủ quan: Tội khủng bố được thực hiện với lỗi cố ý; mục đích của người thực hiện hành vi phạm tội là nhằm gây ra tình trạng hoảng sợ trong công chúng. Tình trạng hoảng sợ trong công chúng là trạng thái tâm lý lo lắng của người dân về sự an toàn tính mạng, sức khỏe, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của họ.
Để gây ra tình trạng hoảng sợ trong công chúng, các hành vi khủng bố quy định tại Điều 230a BLHS có thể được thực hiện ở nơi công cộng, nơi tập trung đông người như quảng trường, ngã ba, ngã tư đường giao thông, tại các bến, nhà ga các phương tiện giao thông, trên các phương tiện giao thông, tại trụ sở các cơ quan, tổ chức, tại các nơi vui chơi, giải trí, du lịch, trường học, bệnh viện, khu dân cư, tại các tòa nhà, cơ sở hạ tầng khác mà người dân có thể đến với nhiều mục đích khác nhau. Ví dụ: Hành vi gây nổ ở một khu vực ga xe lửa làm cho người dân lo lắng về sự an toàn tính mạng, sức khỏe, tài sản của họ khi tham gia giao thông trên các phương tiện giao thông công cộng. Hành vi được thực hiện ở những địa điểm có tính biệt lập, không phải nơi công cộng, ví dụ: Tại gia đình hoặc trong trụ sở cơ quan nhưng nhằm gây ra tình trạng hoảng sợ trong công chúng thì cũng bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội khủng bố theo Điều 230a BLHS nếu thỏa mãn các dấu hiệu khác của cấu thành tội phạm này.
c. Mặt khách quan của tội phạm được thể hiện ở những hành vi như:
Hành vi phá hủy tài sản quy định tại khoản 1 Điều 230a BLHS là làm cho tài sản mất hẳn giá trị sử dụng, không thể khôi phục lại được. Chiếm giữ tài sản quy định tại khoản 2 Điều 230a BLHS là hành vi chiếm giữ một cách trái pháp luật tài sản thuộc quyền nắm giữ, quản lý của cá nhân, tổ chức khác; hành vi làm hư hại tài sản quy định tại khoản 2 Điều 230a BLHS là cố ý làm hư hỏng hoặc giảm giá trị sử dụng của tài sản nhưng có thể khôi phục lại được. Hành vi này được thực hiện bằng nhiều hình thức khác nhau như: đốt, đập, phá, dùng thuốc nổ, dùng chất hóa học… Đe dọa phá hủy tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân là hành vi bằng lời nói, gửi tin nhắn, hình ảnh hoặc bằng các hành vi khác làm cho cơ quan, tổ chức, cá nhân biết được và lo sợ rằng tài sản của mình có thể bị phá hủy.
Hành vi khác uy hiếp tinh thần quy định tại khoản 3 Điều 230a là đe dọa xâm phạm tính mạng, sức khỏe, tự do thân thể, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người bị uy hiếp hoặc đe dọa xâm phạm tính mạng, sức khỏe, tự do thân thể, tài sản, danh dự, nhân phẩm của thân nhân người bị uy hiếp hoặc các hành vi khác nhằm làm cho người bị uy hiếp lo sợ, cản trở khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của họ một cách bình thường.
Trường hợp người thực hiện hành vi xâm phạm tính mạng của cán bộ, công chức, công dân, người nước ngoài, nếu gây ra tình trạng hoảng sợ trong công chúng, nhưng có mục đích nhằm chống chính quyền nhân dân thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân theo quy định tại Điều 84 BLHS nếu thỏa mãn các dấu hiệu khác của cấu thành tội phạm này; nếu xâm phạm tính mạng của cán bộ, công chức, công dân, người nước ngoài, gây ra tình trạng hoảng sợ trong công chúng, nhưng có mục đích nhằm chống chính quyền nhân dân và hành vi đó được thực hiện ở vùng rừng núi; vùng biển, vùng hiểm yếu khác thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội hoạt động phỉ theo quy định tại Điều 83 BLHS nếu thỏa mãn các dấu hiệu của cấu thành tội phạm này; nếu xâm phạm tính mạng của cán bộ, công chức, công dân, người nước ngoài, gây ra tình trạng hoảng sợ trong công chúng, nhưng có mục đích nhằm chống chính quyền nhân dân thông qua hoạt động vũ trang hoặc dùng bạo lực có tổ chức thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội bạo loạn quy định tại Điều 82 BLHS nếu thỏa mãn các dấu hiệu của cấu thành tội phạm này.
Trường hợp người thực hiện một trong các hành vi xâm phạm tính mạng, đe dọa xâm phạm tính mạng, uy hiếp tinh thần; xâm phạm tự do thân thể, sức khỏe của người khác, nhưng không nhằm gây sự hoảng sợ trong công chúng, không nhằm chống chính quyền nhân dân thì tùy trường hợp cụ thể, người thực hiện hành vi vi phạm sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm tương ứng như tội giết người quy định tại Điều 93 BLHS, tội đe dọa giết người quy định tại Điều 103 BLHS, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác quy định tại Điều 104 BLHS, tội bắt giữ hoặc giam giữ người trái pháp luật quy định tại Điều 123 BLHS …nếu thỏa mãn các dấu hiệu của cấu thành tội phạm tương ứng.
 Trường hợp người thực hiện hành vi phá hoại, nếu nhằm gây ra tình trạng hoảng sợ trong công chúng, nhưng có mục đích nhằm chống chính quyền nhân dân thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội gián điệp theo quy định tại Điều 80 BLHS nếu thỏa mãn các dấu hiệu khác của cấu thành tội phạm này. Trường hợp người thực hiện hành vi phá hủy tài sản, nếu nhằm gây ra tình trạng hoảng sợ trong công chúng, nhưng có mục đích nhằm chống chính quyền nhân dân và tài sản bị phá hủy là cơ sở vật chất - kỹ thuật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong các lĩnh vực chính trị, an ninh, quốc phòng, kinh tế, khoa học - kỹ thuật, văn hóa, xã hội thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phá hoại cơ sở vật chất - kỹ thuật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo quy định tại Điều 85 BLHS nếu thỏa mãn các dấu hiệu khác của cấu thành tội phạm này; nếu phá hủy tài sản, nhằm gây ra tình trạng hoảng sợ trong công chúng, không có mục đích nhằm chống chính quyền nhân dân, nhưng tài sản đó là công trình hoặc phương tiện giao thông vận tải, thông tin - liên lạc, công trình điện, dẫn chất đốt, công trình thủy lợi hoặc công trình quan trọng khác về an ninh, quốc phòng, kinh tế, khoa học - kỹ thuật, văn hóa và xã hội, hoặc tài sản là vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự thì vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội khủng bố theo quy định tại Điều 230a BLHS nếu thỏa mãn các dấu hiệu khác của cấu thành tội phạm này.
 Trường hợp nhằm gây ra tình trạng hoảng sợ trong công chúng mà thực hiện hành vi chiếm đoạt tàu bay, tàu thủy thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội khủng bố theo quy định tại Điều 230a BLHS nếu thỏa mãn các dấu hiệu khác của cấu thành tội phạm này. Nếu chiếm đoạt tàu bay, tàu thủy nhưng không có mục đích nhằm gây ra tình trạng hoảng sợ trong công chúng thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội chiếm đoạt tàu bay, tàu thủy theo quy định tại Điều 221 BLHS nếu thỏa mãn các dấu hiệu khác của cấu thành tội phạm này. Trường hợp người thực hiện một trong các hành vi chiếm giữ tài sản, làm hư hại tài sản, nếu không nhằm gây ra tình trạng hoảng sợ trong công chúng thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội chiếm giữ trái phép tài sản theo quy định tại Điều 141 BLHS hoặc tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản quy định tại Điều 143 BLHS nếu thỏa mãn các dấu hiệu khác của cấu thành tội phạm đó.
 Trường hợp nhằm gây ra tình trạng hoảng sợ trong công chúng mà bịa đặt, cố ý loan truyền thông tin giả về khủng bố (ví dụ bịa đặt, cố ý loan truyền tin giả có chất nổ, bom trên tàu bay, tàu hỏa, về dịch bệnh nguy hiểm…) thì không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội khủng bố theo Điều 230a BLHS mà tùy từng trường hợp cụ thể sẽ bị xử lý theo quy định khác của pháp luật.
d. Chủ thể của tội phạm:
Người phạm tội có thể là công dân Việt Nam, công dân nước ngoài hay người không có quốc tịch, có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi nhất định.
đ. Hình phạt:
Điều 230a quy định ba khung hình phạt:
Khung 1: Quy định hình phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm, chung thân hoặc tử hình áp dụng đối với trường hợp xâm phạm tính mạng của người khác hoặc phá hủy tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Khung 2: Quy định hình phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm áp dụng đối với trường hợp xâm phạm tự do thân thể, sức khỏe hoặc chiếm giữ, làm hư hại tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Khung 3: Quy định hình phạt tù từ hai năm đến bảy năm áp dụng trong trường hợp đe dọa thực hiện một trong các hành vi quy định tại khoản 1 điều này.
Hình phạt bổ sung: Người phạm tội còn có thể bị phạt quản chế, cấm cư trú từ một năm đến năm năm, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
2. Tội tài trợ khủng bố:
Tại Điều 230b “Tội tài trợ khủng bố” được quy định như sau:
“1. Người nào huy động, hỗ trợ tiền, tài sản dưới bất kỳ hình thức nào cho tổ chức, cá nhân khủng bố, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười năm.
2. Người phạm tội còn có thể bị phạt quản chế, cấm cư trú từ một năm đến năm năm, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
Tài trợ khủng bố là hành vi huy động, hỗ trợ tiền, tài sản cho tổ chức, cá nhân khủng bố có những dấu hiệu pháp lý đặc trưng sau:
a. Khách thể của tội phạm:
Cũng tương tự như đối với tội khủng bố, khách thể loại của tội tài trợ khủng bố là an toàn công cộng và trật tự công cộng, còn khách thể trực tiếp cũng có thể là tính mạng, sức khỏe, tài sản, quyền tự do thân thể và tinh thần của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Đối tượng tác động của tội phạm này là tiền hoặc tài sản mà người phạm tội tài trợ cho tổ chức, cá nhân khủng bố; thông qua những đồng tiền hoặc tài sản mà người phạm tội tài trợ cho tổ chức, cá nhân khủng bố xâm phạm đến an toàn công cộng và trật tự công cộng hoặc gián tiếp xâm phạm tính mạng, sức khỏe, tài sản, quyền tự do thân thể và tinh thần của cơ quan, tổ chức, cá nhân con người và tài sản.
b. Mặt chủ quan:
Hành vi phạm tội tài trợ khủng bố được thực hiện với lỗi cố ý;
c. Mặt khách quan của tội phạm:
Mặt khách quan của tội tài trợ khủng bố được biểu hiện ở hành vi huy động, hỗ trợ tiền, tài sản dưới bất kỳ hình thức nào cho tổ chức, cá nhân khủng bố. Hành vi huy động, hỗ trợ tiền, tài sản được thực hiện dưới các hình thức tặng, cho, cho vay, mượn tiền, tài sản, lợi ích vật chất khác hoặc dưới bất kỳ hình thức nào bao gồm cả việc vận động, kêu gọi, hỗ trợ cung cấp tiền, tài sản cho tổ chức khủng bố hoặc cá nhân khủng bố.
 Tài sản bao gồm: vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản, bất động sản, động sản, hoa lợi, lợi tức, vật chính, vật phụ, vật chia được, vật không chia được, vật tiêu hao, vật không tiêu hao, vật cùng loại, vật đặc định, vật đồng bộ và quyền tài sản.
 Huy động, hỗ trợ tiền, tài sản quy định tại khoản 1 Điều 230b BLHS phải không nhằm giúp sức cho việc thực hiện các hành vi khủng bố cụ thể mới cấu thành tội tài trợ khủng bố. Trường hợp huy động, hỗ trợ tiền, tài sản cho tổ chức, cá nhân khủng bố nhằm giúp sức cho việc chuẩn bị thực hiện hoặc thực hiện một hoặc một số vụ khủng bố cụ thể thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân quy định tại Điều 84 BLHS hoặc tội khủng bố quy định tại Điều 230a BLHS với vai trò là đồng phạm nếu thỏa mãn các dấu hiệu khác của cấu thành tội phạm đó. Nếu không biết trước, mà huy động, hỗ trợ tiền, tài sản để giúp cá nhân khủng bố bỏ trốn sau khi thực hiện hành vi phạm tội thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội che dấu tội phạm quy định tại Điều 313 BLHS nếu thỏa mãn các dấu hiệu khác của cấu thành tội phạm này.
d. Chủ thể của tội phạm: Chủ thể của tội phạm này cũng giống như chủ thể ở tội khủng bố đó là:
Người phạm tội có thể là công dân Việt Nam, công dân nước ngoài hay người không có quốc tịch, có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi nhất định.
đ. Hình phạt:
Điều luật quy định một khung hình phạt với mức hình phạt từ năm năm đến mười năm. Áp dụng trong khung cấu thành cơ bản.
Hình phạt bổ sung: Người phạm tội còn có thể bị quản chế, cấm cư trú một năm đến năm năm, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
III. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VƯỚNG MẮC THEO QUY ĐỊNH TẠI ĐIỀU 230A, 230B VÀ KIẾN NGHỊ
Cho tới nay, tại Việt Nam cũng chỉ có số ít vụ án khủng bố chống chính quyền nhân dân được đưa ra xét xử, điển hình như năm 1985 tại tỉnh Hà Bắc cũ có vụ án Nguyễn Văn Điểm Giám đốc Công ty Ngoại thương huyện Lạng Giang đã có hành vi thuê người ném lựu đạn vào nhà đồng chí Mai Thúc Lân Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Bắc nhằm đe dọa chống lại chủ trương thanh tra Công ty của Điểm do đồng chí Chủ tịch chỉ đạo. Còn tội khủng bố hay tài trợ khủng bố như quy định hiện hành chưa có vụ nào phải đưa ra xét xử (vì mới được bổ sung vào BLHS năm 2009). Song qua nghiên cứu quy định tại các Điều 84 BLHS “Tội khủng bố chống chính quyền nhân dân”, Điều 230a BLHS “Tội khủng bố”, Điều 230b BLHS “Tội tài trợ khủng bố” và Thông tư số 06/2012/TTLT/BCA - BQP - BTP -NHNNVN - VKSNDTC - TANDTC, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao ngày 05/5/2012 hướng dẫn cụ thể và chi tiết về tội khủng bố và tài trợ khủng bố, chúng tôi thấy có một số vướng mắc sau:
Thứ nhất: Dấu hiệu đặc trưng để phân biệt giữa tội “khủng bố chống chính quyền nhân dân” và tội “khủng bố” chính là mục đích của tội phạm. Đối với quy định tại Điều 84 BLHS thì mục đích chính là chống chính quyền nhân dân còn đối với Điều 230a BLHS thì mục đích là nhằm gây ra tình trạng hoảng sợ trong công chúng. Song tại Thông tư số 06 có hướng dẫn “…Trường hợp nhằm gây ra tình trạng hoảng sợ trong công chúng mà thực hiện hành vi chiếm đoạt tàu bay, tàu thủy thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội khủng bố theo quy định tại Điều 230a Bộ luật hình sự nếu thỏa mãn các dấu hiệu khác của cấu thành tội phạm này”. Nếu trường hợp người nào đó, có hành vi chiếm đoạt tàu bay, tàu thủy với mục đích nhằm chống lại chính quyền nhân dân thì xử lý theo điều luật nào? Điều 84 BLHS không có quy định về hành vi chiếm đoạt, chiếm giữ!
Một vấn đề nữa là theo quy định của pháp luật một số nước trên thế giới và quy định tại các Công ước quốc tế về chống khủng bố thì hành vi khủng bố được thực hiện nhằm ba mục đích: Một là, gây hoảng loạn trong công chúng; Hai là, ép buộc chính quyền làm hoặc không làm một việc nhất định theo yêu cầu của bọn khủng bố; Ba là, ép buộc tổ chức quốc tế làm hoặc không làm công việc nhất định theo yêu cầu của những kẻ khủng bố. Song hiện tội khủng bố theo quy định tại Điều 230a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 1999 mới chỉ ghi nhận một mục đích của hành vi khủng bố, đó là hành vi gây hoảng loạn trong công chúng, còn mục đích thứ hai là ép buộc chính quyền làm hoặc không làm một việc nhất định theo yêu cầu của bọn khủng bố có thể xử lý theo Điều 84 BLHS, song còn mục đích thứ ba là  “ép buộc tổ chức quốc tế làm hoặc không làm công việc nhất định theo yêu cầu của những kẻ khủng bố” không biết xử lý theo điều luật nào?
Thứ hai: Về hành vi xâm phạm tính mạng của người khác và hành vi phá hủy tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định tại khoản 1 Điều 230a, hiện quy định rất chung chung, không cụ thể rất khó vận dụng khi quyết định hình phạt. Có được hiểu hành vi xâm phạm tính mạng của người khác  tương tự như đối với hành vi giết người không? Trường hợp nào thì xử mười năm, trường hợp nào thì xử hai mươi năm, chung thân hoặc tử hình. Hành vi phá hủy tài sản đến mức độ nào thì áp dụng các mức hình phạt tương ứng theo quy định tại khoản 1 của điều luật.
Về hành vi xâm phạm sức khỏe quy định tại khoản 2 điều luật cũng vậy có được áp dụng tương tự như đối với hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác quy định tại Điều 104 BLHS không ? Có cần phải căn cứ vào tỷ lệ thương tật để truy cứu trách nhiệm hình sự không ? Hiện theo chúng tôi hiểu, thì quy định đối với tội khủng bố, người phạm tội xâm phạm đến sức khỏe của người khác không nhất thiết phải gây ra thương tích hay gây tổn hại cho sức khỏe của người khác có tỷ lệ thương tật từ 11% trở lên, mà có thể chỉ gây ra thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của cá nhân dưới 11% cũng được coi là hành vi xâm phạm sức khỏe. Theo chúng tôi, nếu không quy định tỷ lệ thương tật để làm căn cứ xử lý thì sẽ dẫn đến tình trạng áp dụng tùy tiện, không bảo đảm nguyên tắc công bằng.
Thứ ba: Đối với Điều 230b BLHS “Tội tài trợ khủng bố”, tại khoản  1 cũng không hề quy định về định lượng là không hợp lý mà cần có quy định về định lượng tối thiểu và tối đa trong cấu thành cơ bản để làm căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự cũng như làm căn cứ để quyết định khung hình phạt. Quy định như vậy không bảo đảm tính khả thi vì không lẽ một người nào đó tài trợ khủng bố 10.000đ cũng bị bỏ tù.
Thứ tư: Rất khó đánh giá về động cơ mục đích của người phạm tội trong tội tài trợ khủng bố và rất dễ nhầm lẫn về tội danh giữa tội tài trợ khủng bố với các tội phạm khác; giữa tội tài trợ khủng bố với tội “khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân” với vai trò giúp sức quy định tại Điều 84 BLHS.
Việc Luật sửa đổi, bổ sung một số điều BLHS năm 1999 đã tội phạm hóa hành vi “khủng bố” và hành vi “tài trợ khung bố” thành hai điều luật trong BLHS là hết sức cần thiết trong việc hợp tác chống khủng bố quốc tế hiện nay. Song để các quy định của luật đi vào cuộc sống và được thực thi một cách công bằng và nghiêm minh cũng như có đường lối áp dụng thống nhất, chúng tôi kiến nghị các Cơ quan thẩm quyền cần sớm có văn bản hướng dẫn cụ thể hơn trong việc lượng hóa mức độ thiệt hại cũng như định lượng cụ thể trong nội dung của hai điều luật để có cơ sở áp dụng một cách thống nhất.
Theo chúng tôi, có thể áp dụng tương tự về hậu quả do hành vi phạm tội gây ra như các quy định về tội giết người theo điều 93 BLHS đối với hành vi xâm phạm tính mạng và theo Điều 104 BLHS đối với những hành vi xâm phạm thân thể. Về mức độ thiệt hại do hành vi phá hủy tài sản thì áp dụng tương tự những hướng dẫn đối với các tội xâm phạm sở hữu. Còn hành vi tài trợ khủng bố cũng cần có quy định mức tối thiểu có thể từ hai mươi triệu là căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự.
Cần có hướng dẫn cụ thể về xác định động cơ mục đích của người tài trợ khủng bố, trong trường hợp nào thì truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 230b BLHS, trường hợp nào thì truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 84 BLHS hoặc 230a BLHS với vai trò đồng phạm giúp sức. Nếu theo quy định hiện hành thì phải chăng chúng ta không cần xem xét tới động cơ, mục đích của người tài trợ khủng bố.

Bộ luật hình sự cần tiếp tục sửa đổi theo hướng ghi nhận mục đích “ép buộc tổ chức quốc tế làm hoặc không làm công việc nhất định theo yêu cầu của những kẻ khủng bố” vào tội khủng bố quy định tại Điều 230a BLHS, như vậy sẽ phù hợp với pháp luật quốc tế, pháp luật các nước trên thế giới đồng thời ghi nhận hết các dấu hiệu cấu thành tội khủng bố tại Điều 230a Bộ luật hình sự.

nhãn totunghinhsu

THÔNG TIN TỐ TỤNG HÌNH SỰ

banner

ĐÀO TẠO NGHIỆP VỤ XÉT XỬ TẠI TP. HỒ CHÍ MINH

VĂN BẢN MỚI BAN HÀNH

VĂN BẢN MỚI

TIN PHÁP ĐÌNH


THONG TIN TRANG NGHIỆP VỤ