Đang tải dữ liệu...
Thẩm Phán 13 Lớp B (thamphan13) /* Menu Horizontal top*/

Tạo banner chạy dọc hai bên

hinhlop1

hinhlop


Download Hình

Tiện ích bài đăng có ảnh thumbnail chạy ngang

Ly hôn với người mất tích - Khởi kiện vụ án ly hôn với người mất tích có phải qua thủ tục tuyên bố mất tích hay không?

02:02:00 |
Ly hôn là chấm dứt quan hệ hôn nhân theo yêu cầu của vợ hoặc của chồng hoặc cả hai vợ chồng do Toà án công nhận hoặc quyết định. Tòa án là cơ quan duy nhất có trách nhiệm phán quyết chấm dứt quan hệ hôn nhân của vợ chồng.

Phán quyết ly hôn của Tòa án thể hiện dưới hai hình thức bản án hoặc quyết định. Trong trường hợp hai bên thuận tình ly hôn, thỏa thuận với nhau giải quyết được tất cả các nội dung quan hệ tình cảm, con, tài sản chung khi ly hôn thì Toà án công nhận ra phán quyết dưới hình thức là quyết định. Nếu vợ chồng có mâu thuẫn, tranh chấp thì Tòa án ra phán quyết dưới dạng bản án ly hôn.

Điều 89 khoản 2 Luật hôn nhân gia đình năm 2000 quy định “Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn”.

Như vậy, một người được quyền yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn đối với người đã được Tòa án tuyên bố mất tích và những thủ tục tiến hành giải quyết cho ly hôn đều theo thủ tục chung quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi bổ sung năm 2011 như gửi thông báo thụ lý, thông báo hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử cho vợ, chồng. Tuy nhiên một vấn đề đặt ra là vợ hoặc chồng đã được Tòa án tuyên bố là mất tích thì việc gửi, tống đạt các quyết định trên cho đương sự là không thể nào nhận được, biết được. Do vậy, các biện pháp tống đạt cho đương sự đã được tuyên bố là mất tích có cần thiết hay không? Phải tống đạt theo thủ tục chung của Bộ luật tố tụng dân sự hay cho rằng đây là trường hợp ngoại lệ không cần tiến hành tống đạt. Dưới đây là ví dụ điển hình:

Vụ án tranh chấp ly hôn, nguyên đơn là anh Vũ Triệu Phong (sinh năm 1960), bị đơn là chị Bùi Thị Nga (sinh năm 1966; đều trú quán ở thôn Lương Quán, xã Nam Sơn, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng).

Anh Phong và chị Nga sống với nhau từ năm 1985 không có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu vợ chồng sống vui vẻ, hạnh phúc nhưng sau này phát sinh mâu thuẫn. Đến năm 2005, chị Nga bỏ nhà ra đi, anh Phong đã đi tìm kiếm nhưng không có tin tức gì của chị Nga. Ngày 18/10/2010, anh Phong có đơn xin yêu cầu tuyên bố mất tích với chị Nga. Ngày 10/11/2011, Tòa án nhân dân huyện An Dương đã mở phiên họp và ra quyết định tuyên chị Nga mất tích. Ngày 07/12/2011, anh Phong có đơn khởi kiện xin ly hôn đối với chị Nga. Quá trình thụ lý giải quyết Tòa án gửi thông báo thụ lý vụ án cho anh ruột của chị Nga, không tiến hành hòa giải, niêm yết quyết định đưa vụ án ra xét xử tại Ủy ban nhân dân xã Nam Sơn. Sau đó đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị đơn.

Quan điểm thứ nhất cho rằng, Tòa án đã vi phạm Điều 146, 149, 155 và Điều 199 Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi bổ sung năm 2011.

Áp dụng pháp luật giải quyết tranh chấp về tài sản khi tuyên bố không công nhận là vợ chồng

01:15:00 |
Điều 11 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 (Luật HN & GĐ) và hướng dẫn tại Mục 2 Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 đã quy định trường hợp nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không được pháp luật thừa nhận là hôn nhân hợp pháp. Tại mục 5.4.1.4, khoản 5, điểm C, phần thứ 3 của “Sổ tay Thẩm phán” cũng nêu rất rõ văn bản án dụng và các trường hợp không được công nhận là vợ chồng. Luật HN & GĐ có chương III quy định về quan hệ giữa vợ và chồng (trong đó có quy định về chế độ tài sản chung vợ chồng, việc đại diện cho nhau, trách nhiệm liên đới của một bên đối với giao dịch do bên kia thực hiện, tài sản riêng…) và chương X quy định về giải quyết các vấn đề về ly hôn (con cái, tài sản…). Tuy nhiên, giải quyết các vấn đề về tài sản đối với trường hợp hôn nhân không hợp pháp (hủy hôn nhân trái pháp luật, không công nhận là vợ chồng) thì lại chỉ được quy định tại điểm c mục 3 Nghị quyết số 35/2000/QH ngày 09/6/2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình (Nghị Quyết 35/2000/QH10): “Kể từ ngày 01 tháng 1 năm 2001 trở đi, trừ trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 3 của Nghị quyết này, nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn, đều không được pháp luật công nhận là vợ chồng; nếu cóyêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng;nếu có yêu cầu về con và tài sản thì Tòa án áp dụng khoản 2 và khoản 3 Điều 17của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết”. Điều  17 Luật HN & GĐ quy định về hậu quả pháp lý của việc hủy kết hôn trái pháp luật như sau: “…3. Tài sản được giải quyết theo nguyên tắc tài sản riêng của ai thì vẫn thuộc quyền sở hữu của người đó; tài sản chung được chia theo thỏa thuận của các bên; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết, có tính đến công sức đóng góp của mỗi bên; ưu tiên bảo vệ quyền lợi chính đáng của phụ nữ và con”.

Giải quyết ly hôn với một bên mắc bệnh tâm thần

12:40:00 |

Trong thực tiễn cuộc sống nhiều cặp vợ chồng khi kết hôn sức khỏe đều bình thường nhưng trong thời gian tồn tại hôn nhân do bị ốm đau hoặc tai nạn dẫn đến bị bệnh tâm thần...

Hoặc bị một bệnh khác mà không làm chủ được hành vi của mình, đã có thời gian dài điều trị bệnh nhưng không khỏi. 
Từ nhu cầu thực tế của cuộc sống cần giải quyết ly hôn và việc yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn có thể xảy ra hai trường hợp: Một bên vợ (chồng) của người bị bệnh tâm thần yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Bên người bị bệnh tâm thần cần phải giải quyết ly hôn vì lúc này người bị bệnh tâm thần cuộc sống của họ phải nhờ vào người khác (mà một bên vợ hoặc chồng không có trách nhiệm) do đó họ cần được chia tài sản chung để đảm bảo cho cuộc sống của họ. 
Về căn cứ cho ly hôn được quy định tại Điều 89 Luật Hôn nhân và gia đình Tòa án căn cứ để giải quyết như sau: “Tòa án xem xét yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, thì Tòa án quyết định cho ly hôn”. Nhưng chúng ta biết rằng người bị bệnh tâm thần là người không có khả năng nhận thức, không làm chủ được hành vi của mình. Do đó khi có một bên có yêu cầu ly hôn thì có thể giải quyết ly hôn thông qua một trong các thủ tục sau: 
Thông qua người đại diện: Tại khoản 3 Điều 73 của Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) quy định: “...đối với việc ly hôn, đương sự không được uỷ quyền cho người khác thay mặt mình tham gia tố tụng”. Đối với người bị bệnh tâm thần họ không có khả năng nhận thức nên họ không biết gì về ly hôn, cũng không biết gì về uỷ quyền và họ cũng không thể thực hiện được việc uỷ quyền. Do đó không thể thực hiện được thủ tục đại diện để giải quyết việc ly hôn đối với người bị bệnh tâm thần.
Thông qua người giám hộ: Theo quy định tại khoản 2 Điều 58 của Bộ luật Dân sự (BLDS) thì: “Người được giám hộ bao gồm:… b, Người mất năng lực hành vi dân sự”. Người mất năng lực hành vi dân sự theo quy định tại khoản 1 Điều 22 BLDS: “Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc do bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở của tổ chức giám định”.
Mặt khác trong BLTTDS cũng như Luật Hôn nhân và gia đình không quy định Tòa án được giải quyết ly hôn đối với người bị bệnh tâm thần nhưng tại Điều 182 BLTTDS có quy định về những vụ án dân sự không tiến hành hòa giải được. Khoản 3 điều luật này quy định: “Đương sự là vợ hoặc chồng trong vụ án ly hôn là người mất năng lực hành vi dân sự”. Khoản 3 Điều 182 BLTTDS quy định về trường hợp không tiến hành hòa giải được, tức là việc ly hôn của người bị bệnh tâm thần được giải quyết theo thủ tục tố tụng của BLTTDS.
Như vậy khi giải quyết ly hôn với một người bị bệnh tâm thần thì được giải quyết theo thủ tục có người giám hộ sau khi người bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác không nhận thức làm chủ hành vi của mình được Tòa án quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự có hiệu lực pháp luật. 
Khi một người đã mất năng lực hành vi dân sự thì người giám hộ đương nhiên là người vợ hoặc chồng theo khoản 1 Điều 62 BLDS “Trong trường hợp vợ mất năng lực hành vi dân sự thì người chồng là người giám hộ; nếu chồng mất năng lực hành vị dân sự thì người vợ là người giám hộ”. Hoặc theo khoản 2 Điều 24 Luật Hôn nhân và gia đình quy định “Vợ chồng đại diện cho nhau khi một bên mất năng lực hành vi dân sự mà bên kia có đủ điều kiện làm người giám hộ hoặc khi một bên bị hạn chế năng lực hành vi dân sự mà bên kia được Tòa án chỉ định làm người đại diện theo pháp luật cho người đó”. Song nếu để vợ hoặc chồng người bệnh làm người giám hộ thì không đảm bảo công bằng vì quyền lợi đối lập nhau, lúc này người vợ hoặc chồng làm thủ tục xin ly hôn có hai tư cách: Vừa là nguyên đơn vừa là người giám hộ, đại diện cho người mất năng lực hành vi dân sự (bị đơn). Đây là trường hợp không được tồn tại trong một vụ án vì quyền lợi hai bên rõ ràng là đối lập nhau (khoản 1 Điều 75 BLTTDS). Mặt khác, việc cử người khác giám hộ chỉ được thực hiện khi không có người giám hộ đương nhiên (Điều 63 BLDS), ở đây chúng ta chưa nói đến vấn đề ly hôn là một quyền nhân thân, phải do chính họ thực hiện không thể chuyển giao cho người khác (Điều 24 BLDS).
Vậy ai sẽ đóng vai trò là người đại diện cho người bị mất năng lực hành vi dân sự trong trường hợp đặc biệt này? Theo chúng tôi, khi Tòa án đã thụ lý vụ án ly hôn theo yêu cầu của người vợ hoặc chồng với người mất năng lực hành vi dân sự thì căn cứ vào Điều 76 BLTTDS, Tòa án sẽ chỉ định người đại diện: “Trong khi tiến hành tố tụng dân sự, nếu có đương sự là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự mà không có người đại diện hoặc người đại diện theo pháp luật của họ thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 75 của bộ luật này thì Tòa án phải chỉ định người đại diện để tham gia tố tụng tại Tòa án”. Vấn đề là sau đó Tòa nên chỉ định người đại diện là những người có mối liên hệ thân thích với người bệnh để làm sao bảo vệ được tốt nhất quyền lợi hợp pháp cho người bệnh.
Ly hôn trong trường hợp người bị bệnh tâm thần là người khởi kiện: Vấn đề đặt ra ở đây người bị bệnh không phải là chấm dứt hôn nhân vì họ đã bị bệnh tâm thần nên không có khả năng nhận thức, không làm chủ được hành vi của mình nên họ không thể biết việc ly hôn là thế nào, cuộc sống của họ hoàn toàn lệ thuộc vào người khác nên việc giải quyết ly hôn là để được giải quyết phần tài sản chung của vợ chồng nhằm đáp ứng cuộc sống của họ (Vì trong thực tế có một số trường hợp khi một bên bị bệnh tâm thần thì phía bên vợ hoặc bên chồng bình thường không quan tâm, không có trách nhiệm gì hoặc đối xử không tốt với người chồng hoặc người vợ mất năng lực hành vi dân sự và có thể họ còn khai thác tài sản chung của vợ chồng cho những lợi ích riêng của riêng mình).
Việc giải quyết ly hôn của họ ở đây sẽ được thông qua người giám hộ, đại diện như trường hợp trên, người bị bệnh tâm thần là nguyên đơn do người đại diện thực hiện. 
Về chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định tại khoản 2 Điều 27 BLTTDS: “Tranh chấp về tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân”. Vậy người đại diện cho người mất năng lực hành vi dân sự có thể đại diện cho họ để khởi kiện chia tài sản chung theo thủ tục người đại diện, vì ở đây không giải quyết về hôn nhân nên không liên quan đến quyền nhân thân (mà họ không được chuyển giao), Tòa án chỉ giải quyết về việc chia tài sản chung, thực hiện thông qua người đại diện và để tránh xung đột, đối lập về quyền lợi thì Tòa án có thể chỉ định người đại diện theo quy định tại khoản 3 Điều 141 BLTTDS. Việc giải quyết vụ án về tranh chấp tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân được giải quyết theo thủ tục chung được quy định ở BLTTDS mà vẫn đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho người vợ hoặc người chồng bị mất năng lực hành vi dân sự.  
Trên đây là một số ý kiến xuất phát từ thực tiễn áp dụng các quy định của BLTTDS và các quy định liên quan trong việc giải quyết vụ việc ly hôn mà một bên mắc bệnh tâm thần và chúng tôi xin được chia sẻ với bạn đọc và các đồng nghiệp.

Lấy tài sản chung của vợ chồng để tiêu xài riêng có phải là trộm cắp tài sản?

12:24:00 |

Vợ chồng anh H chị M tự thân vận động bằng sức lao động của mình mà có được nhìn lên thì không bằng người ta, trông xuống thì cũng là ước mơ của nhiều cặp vợ chồng mới tách khỏi sự bao cấp của cha mẹ.

Anh H, chị M không nhiều con, nhưng cũng đủ nuôi có trai, có gái, nhà ở không to đẹp nhưng cũng chịu đựng được bão có cấp độ gió cấp 7, cấp 8, chi tiêu có tính toán nên cũng có đồng dư thừa phòng lúc ốm đau. Vài năm gần đây, chị M chi tiêu rộng rãi làm anh H phải lo lắng vì từ nghèo khó đi lên nên anh H không thể không quan tâm lo lắng đến việc chi tiêu của vợ. Anh H phát hiện chị M còn tham gia chơi lô, đề và đã nhắc nhở. Chị M nghe chồng nói vậy nhưng ít ngày sau vẫn hơi lô đề bình thường.
Anh H thấy lời nói không hiệu quả nên áp dụng biện pháp “cấm vận kinh tế” quản lý tiền chặt chẽ hơn, nhưng cấm vận kinh tế cũng không kết quả, vì chị M vay tiền của người quen để chơi. Chị M cũng có lúc trúng lô đề, cũng có lúc thua. Lúc thắng thì chi tiêu vô tư, còn lúc thua thì nghĩ cách gỡ để không thua và chu trình thắng, thua cứ diễn ra làm chị M không còn minh mẫn, mà thua nhiều hơn thắng. Theo đó là số tiền nợ tăng dần theo thời gian, từ một vài triệu tăng lên vài chục triệu, có lúc đến trăm triệu, nhưng lại giảm nợ còn năm, bảy chục triệu. 
Anh H không phải là cử nhân kinh tế, nhưng hay đọc sách nên anh H cũng có một số kiến thức về kinh tế cộng với trí tuệ “trời cho” nên anh tổ chức lao động sản xuất có kết quả mà hiệu quả nhất là thực hiện mối quan hệ giữa tích lũy với tiêu dùng nên hàng năm anh H vẫn tích được vài chục triệu. Số tiền này với một thương nhân không đáng kể, nhưng với hộ gia đình nông nghiệp lại đáng kể.
Đầu năm 2012 (sau Tết âm lịch Nhâm Thìn), anh H phát hiện tài sản tích lũy do “cấm vận kinh tế” mà có đã biến mất. Biết chắc là vợ anh, chị M đã lấy số tiền đó, anh H giữ nguyên “hiện trường” đi báo Công an với mục đích để “giáo dục” vợ bằng pháp luật. Cơ quan điều tra của Công an địa phương vào cuộc và chị M đã được gọi hỏi đầu tiên để làm rõ sự việc. Tại Cơ quan điều tra chị đã khai nhận lấy số tiền đó để trả nợ cho người mà chị đã vay để chơi lô đề. Số tiền nợ là xấp xỉ 90 triệu đồng. Chị M đã khai đầy đủ chi tiết việc lấy tiền đi trả nợ đó với Cơ quan điều tra và chị M bị truy tố về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 2 Điều 138 BLHS. Kết quả là chị M phải nhận bản án 3 năm tù giam.

Bồi thường thiệt hại trong các vụ án hình sự liên quan đến giao dịch dân sự vô hiệu

02:10:00 |

Kết hôn là một trong những quyền cơ bản của công dân được Nhà nước tôn trọng và bảo vệ theo quy định pháp luật. Theo Điều 39 Bộ luật Dân sự quy định quyền kết hôn của công dân được pháp luật tôn trọng và bảo vệ theo các quy định pháp luật về hôn nhân và gia đình. Tại khoản 2 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Kết hôn là việc nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn”.

Công dân khi đăng ký kết hôn phải tuân thủ các quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình; trình tự, thủ tục đăng ký kết hôn được quy định tại Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch. Cụ thể như sau:

Nhân quyền - và hiện tượng, phụ nữ việt nam kết hôn với người nước ngoài

11:23:00 |
Vào ngày 10/12/1948, tuyên ngôn thế giới về nhân quyền được Liên hiệp quốc công bố. Từ đó, mở ra kỷ nguyên mới trong việc thúc đẩy, bảo vệ các quyền con người.

Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền có giá trị lớn lao, như một văn kiện vĩ đại trong lịch sử nhân loại; sức mạnh về khía cạnh pháp lý, chính trị và đạo đức của nó đã ảnh hưởng đến nhiều văn kiện quốc tế, cũng như nhiều bản Hiến pháp của các Quốc gia. 

THÔNG TIN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN CỦA PHỤ NỮ KHI LY HÔN

18:53:00 |
THÔNG TIN PHÁP LUẬT
VỀ QUYỀN CỦA PHỤ NỮ KHI LY HÔN


Trong khuôn khổ hoạt động hợp tác giữa Bộ Tư pháp (Việt Nam) và Tổ chức quốc tế "Hỗ trợ tư pháp và tăng cường sự tham gia từ cơ sở" (Judge) của Canada, Bộ Tư pháp tiến hành xây dựng cuốn tài liệu “Thông tin pháp luật về quyền của phụ nữ khi ly hôn" với mong muốn cung cấp những thông tin cần thiết liên quan và quy định pháp luật về giải quyết ly hôn qua đó nâng cao hiểu biết, ý thức chấp hành pháp luật về quyền của phụ nữ khi ly hôn theo quy định của pháp luật Việt Nam.
Tài liệu này được biên soạn trên cơ sở kết quả khảo sát trực tiếp nhu cầu về thông tin pháp luật của phụ nữ - những người đã ly hôn hoặc đang trong qua trình giải quyết ly hôn, người dân tại cộng đồng cũng như các cán bộ có liên quan ở địa phương (thẩm phán Toà án nhân dân huyện, cán bộ Tư pháp, cán bộ của Hội Liên hiệp Phụ nữ và Hội Nông dân tại các tỉnh Hưng Yên, Thừa Thiên - Huế, Vĩnh Long cùng với sự hỗ trợ tích cực về kỹ thuật từ các chuyên gia tư vấn của Việt Nam và Canada.
Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc và mong nhận được ý kiến góp ý đối với tài liệu để có cơ sở hoàn thiện hơn trong lần xuất bản sau.

CHÚ DẪN

Để thuận lợi khi sử dụng, một số từ ngữ trong tài liệu này được hiểu như sau:
Hôn nhân thực tế là hôn nhân được công nhận dựa trên cơ sở thực tế là các bên nam và nữ đã và đang chung sống như vợ chồng, có đủ điều kiện kết hôn nhưng không đăng ký kết hôn tại cơ quan đăng ký kết hôn có thẩm quyền (Ủy ban nhân dân, cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài…).
Nam, nữ sống chung như vợ chồng trước ngày 03 - 01 - 1987 (ngày Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 có hiệu lực pháp luật) và có đủ điều kiện kết hôn thì vẫn được công nhận là hôn nhân thực tế.
Nam, nữ sống chung như vợ chồng từ ngày 01 - 01 - 2001 ngày Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 có hiệu lực pháp luật) mà không đăng ký kết hôn thì không được pháp luật công nhận là vợ chồng.
Thẩm phán là người được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của Toà án.
Kiểm sát viên là người được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát cấp mình theo phân công của Viện trưởng và chịu trách nhiệm trước Viện trưởng Viện kiểm sát cấp đó.
Chấp hành viên là người được Nhà nước giao trách nhiệm tổ chức thi hành các bản án, quyết định về dân sự của Tòa án Việt Nam và bản án, quyết định về dân sự của Tòa án nước ngoài được Tòa án Việt Nam công nhận.
Người chưa thanh niên là người dưới 18 tuổi.
Người giám hộ của người mắc bệnh tâm thần được xác định là chồng hoặc vợ đối với vợ hoặc chồng; là con đối với cha mẹ hoặc là cha, mẹ đối với con nếu những người này có đủ điều kiện làm người giám hộ.
Người được thi hành án là cá nhân, cơ quan, tổ chức được hưởng quyền, lợi ích trong bản án, quyết định được thi hành.
Thời hạn kháng cáo là khoảng thời gian do pháp luật quy định để những người có quyền kháng cáo được kháng cáo bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án.
Thời hạn kháng nghị là khoảng thời gian do pháp luật quy định để người có thẩm quyền được kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án.
Án phí là khoản chi phí về xét xử một vụ án mà đương sự phải nộp trong mỗi vụ án do cơ quan có thẩm quyền quy định.
Lệ phí là khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải nộp khi được cơ quan nhà nước hoặc tổ chức được uỷ quyền phục vụ công việc quản lý nhà nước được quy định trong Danh mục lệ phí ban hành kèm theo Pháp lệnh về Phí và Lệ phí.
Thi hành án là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền được tiến hành theo thủ tục, trình tự được pháp luật quy định nhằm thực hiện các bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật.
Thời hiệu thi hành án là thời hạn mà người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành án. Hết thời hạn này mà người được thi hành án không yêu cầu cơ quan thi hành án buộc người phải thi hành án thực hiện nghĩa vụ theo bản án, quyết định của Tòa án thì người được thi hành án mất quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành án.
Thi hành án dân sự là hoạt động thi hành các bản án, quyết định sau đây của Tòa án: bản án, quyết định về dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh tế; quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp; quyết định về phần tài sản trong bản án, quyết định hình sự; bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài mà Tòa án Việt Nam đã công nhận và cho thi hành tại Việt Nam và các bản án, quyết định khác do pháp luật quy định.
Phí thi hành án là khoản tiền mà người được thi hành án phải nộp khi nhận được tiền, tài sản theo bản án, quyết định của Tòa án.

MỤC LỤC
PHẦN THỨ NHẤT
THÔNG TIN VỀ  QUYỀN LY HÔN

nhãn totunghinhsu

THÔNG TIN TỐ TỤNG HÌNH SỰ

banner

ĐÀO TẠO NGHIỆP VỤ XÉT XỬ TẠI TP. HỒ CHÍ MINH

Labels

VĂN BẢN MỚI BAN HÀNH

VĂN BẢN MỚI

TIN PHÁP ĐÌNH


THONG TIN TRANG NGHIỆP VỤ