Đang tải dữ liệu...
Thẩm Phán 13 Lớp B (thamphan13) /* Menu Horizontal top*/

Tạo banner chạy dọc hai bên

hinhlop1

hinhlop


Download Hình

Tiện ích bài đăng có ảnh thumbnail chạy ngang

Kỹ năng viết bản án hình sự phúc phẩm

19:05:00 |
Bản án phúc thẩm hình sự được quy định tại Điều 248 Bộ luật tố tụng hình sự và được hướng dẫn viết theo mẫu bản án hình sự phúc thẩm (mẫu số 2đ) ban hành kèm theo Nghị quyết số 05/2005/NQ-HĐTP ngày 08 tháng 12 năm 2005 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Kháng cáo, kháng nghị bản án sơ thẩm là cơ sở của trình tự phúc thẩm và đó cũng là căn cứ để bắt buộc phải thực hiện thủ tục tố tụng từ Tòa án cấp sơ thẩm đến Tòa án cấp phúc thẩm. Khi bản án hình sự sơ thẩm có kháng cáo, bị kháng cáo hoặc bị kháng nghị thì theo quy định của pháp luật, Tòa án cấp sơ thẩm phải thực hiện việc lập và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp phúc thẩm và ra thông báo về việc kháng cáo, kháng nghị cho những người tham gia tố tụng hoặc Viện kiểm sát cùng cấp biết (trong trường hợp có kháng cáo). Đối với trường hợp kháng cáo quá hạn, tuy chưa phải chuyển hồ sơ vụ án, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm vẫn phải thực hiện một số thủ tục để Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết về kháng cáo quá hạn. Tòa án thực hiện chế độ xét xử theo hai cấp nhằm đảm bảo việc giải quyết, xét xử vụ án chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị cáo, những người tham gia tố tụng.
Tòa án cấp phúc thẩm có nhiệm vụ kiểm tra tính hợp pháp và có căn cứ của bản án sơ thẩm hoặc quyết định sơ thẩm có kháng cáo, kháng nghị. Theo quy định tại Điều 241 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) thì “Tòa án cấp phúc thẩm xem xét nội dung kháng cáo, kháng nghị. Nếu xét thấy cần thiết thì Tòa án cấp phúc thẩm có thể xem xét các phần khác không bị kháng cáo, kháng nghị của bản án”. Do vậy, phạm vi xét xử phúc thẩm không chỉ bó hẹp trong việc xem xét, giải quyết nội dung của kháng cáo, kháng nghị mà còn có thể xem xét lại toàn bộ bản án sơ thẩm.
Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án, tức là được thi hành án ngay. Chính vì vậy, việc ra bản án phúc thẩm có ý nghĩa rất quan trọng, không chỉ đối với việc giải quyết nội dung vụ án mà còn là căn cứ để đánh giá chất lượng giải quyết, xét xử của Tòa án cấp sơ thẩm nói chung và trực tiếp đối với Thẩm phán nói riêng. Do vậy, bản án hình sự phúc thẩm phải đảm bảo tính thuyết phục không chỉ đối với các đương sự mà cả với Tòa án cấp sơ thẩm. Trong thực tiễn xét xử, không ít các bản án phúc thẩm hình sự không được Tòa án cấp sơ thẩm đồng tình, thậm chí còn có bản án phúc thẩm bị phản ứng gay gắt bởi việc sửa, hủy án sơ thẩm thiếu căn cứ pháp luật hoặc lập luận thiếu tính thuyết phục.

Kỹ năng viết bản án dân sự phúc thẩm

19:02:00 |
Bản án dân sự phúc thẩm được quy định tại Điều 279 Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) và được hướng dẫn thực hiện theo mẫu số 22, ban hành kèm theo Nghị quyết số 06/2012/NQ-HĐTP ngày 03 tháng 12 năm 2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (sau đây xin viết tắt là Nghị quyết số 06/2012).
I. Viết phần mở đầu của bản án.
Khoản 3 Điều 279 BLTTDS quy định:
“3. Trong phần mở đầu phải ghi rõ tên của Tòa án xét xử phúc thẩm; số và ngày thụ lý vụ án; số bản án và ngày tuyên án; họ, tên của các thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án, kiểm sát viên, người giám định, người phiên dịch; tên, địa chỉ của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, cơ quan, tổ chức khởi kiện; người đại diện hợp pháp, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ; người kháng cáo, Viện kiểm sát kháng nghị; xét xử công khai hoặc xét xử kín; thời gian và địa điểm xét xử.”
1. Cách ghi số, ký hiệu và trích yếu trong bản án
Bản án dân sự phúc thẩm được hiểu theo nghĩa rộng của BLTTDS và bao gồm các vụ án xét xử phúc thẩm về các tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động. Ký hiệu của bản án được hướng dẫn tại Điều 3 Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03 tháng 12 năm 2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ nhất “Những quy định chung” của Bộ luật tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự (sau đây viết tắt là Nghị quyết số 03/2012).
Ví dụ: Nếu là bản án dân sự phúc thẩm thì ký hiệu là DS-PT, nếu là bản án lao động phúc thẩm thì ghi là LĐ-PT. Tùy theo quan hệ pháp luật có tranh chấp và được Tòa án sơ thẩm giải quyết là loại quan hệ pháp luật nào và bản án phúc thẩm xét xử về mối quan hệ pháp luật nào để ghi ký hiệu tương ứng.
- Ghi trích yếu của bản án: Cần xác định tranh chấp mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử là tranh chấp nào để ghi trích yếu của bản án phúc thẩm.
Ví dụ: “V/v tranh chấp về hợp đồng dân sự thuê nhà ở” hoặc nếu là tranh chấp về nợ thì ghi là “V/v tranh chấp đòi nợ”…
- Ghi tên Tòa án xét xử phúc thẩm: Thẩm quyền xét xử phúc thẩm chỉ có ở Tòa án nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và Tòa án nhân dân tối cao. Tòa án nào xét xử phúc thẩm thì ghi chính xác tên của Tòa án đó.
Ví dụ: Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
Hoặc: Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội.
Hoặc: Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng.
- Ghi số bản án: Ví dụ: Bản án số 17/2013/LĐ-PT
- Ghi ngày của bản án: Ngày của bản án phúc thẩm là ngày tuyên án, không phân biệt là vụ án được xét xử trong một ngày hoặc trong nhiều ngày.     
Ví dụ: Ngày tuyên án là ngày 20/08/2013 thì ngày tháng năm của bản án phúc thẩm cũng chính là ngày 20 tháng 08 năm 2013.

Kỹ năng viết bản án hình sự sơ thẩm

18:55:00 |
Bản án hình sự sơ thẩm được quy định tại Điều 224 của Bộ luật tố tụng hình sự (sau đây viết tắt là BLTTHS). Tòa án ra bản án nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Vì vậy, bản án hình sự sơ thẩm là văn bản tố tụng đánh dấu sự kết thúc của quá trình điều tra, truy tố và xét xử, khẳng định bị cáo có phạm tội hay không phạm tội và nếu phạm tội thì phạm tội gì, theo điểm, khoản, điều nào của Bộ luật hình sự (BLHS), các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo và Hội đồng xét xử về giải quyết vụ án. Nếu bị cáo không phạm tội thì bản án phải chỉ rõ những căn cứ xác định bị cáo không phạm tội, đồng thời quyết định việc khôi phục danh dự, quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo.
Như vậy, Hội đồng xét xử là chủ thể duy nhất có quyền ban hành văn bản pháp lý quan trọng này. Xét xử vụ án hình sự là sự thể hiện rõ rệt quyền lực Nhà nước và là một biện pháp hữu hiệu để đấu tranh phòng, chống tội phạm.
Một bản án được lập luận chặt chẽ, logic trên cơ sở phân tích, chứng minh đầy đủ, khách quan, toàn diện những chứng cứ đã được thẩm tra, làm rõ tại phiên tòa và các quyết định của bản án chính xác, đúng pháp luật, thấu tình, đạt lý sẽ có sức thuyết phục mạnh mẽ và đề cao tính giáo dục, phòng ngừa. Bản án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật chẳng những làm cho người phạm tội " tâm phục, quy định của pháp luật, chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước, từ đó nâng cao ý thức pháp luật và đặt niềm tin vào công lý. Vai trò, vị trí của Tòa án được nâng lên khi nhân dân tin tưởng vào các bản án của Tòa án.
Chính vì ý nghĩa và tầm quan trọng nêu trên của bản án hình sự sơ thẩm nên Hội đồng thẩm phán TAND tối cao đã ban hành Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP ngày 05/11/2004 hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ ba " xét xử sơ thẩm" của BLTTHS năm 2003, trong đó tại Điều 2 mục IV đã hướng dẫn về Điều 224 của BLTTHS. Đồng thời, Hội đồng thẩm phán (HĐTP) cũng đã ban hành một số mẫu văn bản tố tụng kèm theo Nghị quyết, trong đó có mẫu bản án hình sự sơ thẩm. Đây là căn cứ pháp lý để các Thẩm phán áp dụng khi viết bản án hình sự sơ thẩm. Tuy nhiên, đây chỉ là mẫu về bố cục, đáp ứng các quy định tại các Điều 185,224 và 307 của BLTTHS năm 2003. Vấn đề quan trọng hơn là việc trình bày các nội dung đó như thế nào để bản án đáp ứng được các yêu cầu cơ bản là bản án phải chính xác, có sự thuyết phục; phải có căn cứ và phải hợp pháp lại thuộc về kỹ năng, trình độ viết của Thẩm phán.

Kỹ năng viết bản án dân sự sơ thẩm

18:48:00 |
Viết bản án dân sự sơ thẩm được quy định tại Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự (sau đây viết tắt là BLTTDS) và được hướng dẫn thực hiện theo mẫu bản án sơ thẩm ban hành kèm theo Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP ngày 31/3/2005 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Theo Điều 39 của Nghị quyết Hội đồng Thẩm phán số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 thì trong 20 loại mẫu văn bản tố tụng ban hành kèm theo Nghị quyết này, không có mẫu bản án sơ thẩm. Tại khoản 1 Điều 40 của Nghị quyết này cũng không đề cập đến hiệu lực thi hành của Nghị quyết Hội đồng Thẩm phán số 01/2005/NQ-HĐTP ngày 31/3/2005. Do vậy, mẫu bản án sơ thẩm đã được ban hành kèm theo Nghị quyết này của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao vẫn được áp dụng trong công tác xét xử các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động.
I/ Viết phần mở đầu của bản án
Khoản 3 Điều 238 BLTTDS quy định “trong phần mở đầu phải ghi rõ Tòa án sẽ xử sơ thẩm; số, ngày, tháng, năm thụ lý vụ án; số bản án, ngày tuyên án; họ tên các thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên, người giám định, người phiên dịch, họ tên, địa chỉ của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, cơ quan, tổ chức khởi kiện; người đại diện hợp pháp, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; đối tượng tranh chấp; số, ngày, tháng, năm của Quyết định đưa vụ án ra xét xử; xét xử công khai hoặc xét xử kín; thời gian, địa điểm xét xử”. Những quy định nêu trên, đã được thể hiện đầy đủ trong mẫu bản án sơ thẩm và hướng dẫn sử dụng mẫu bản án sơ thẩm ban hành cùng Nghị quyết số 01/2005 ngày 31/3/2005 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Tuy nhiên, khi sử dụng mẫu này cần chú ý một số vấn đề sau đây:

Trao đổi nghiệp vụ năm 2010 Tòa Án Nhân Dân Tối Cao

09:44:00 |
Thông qua hoạt động tập huấn, trao đổi nghiệp vụ năm 2010, có nhiều vướng mắc được các Tòa án nhân dân địa phương đưa ra thảo luận. Có một số vấn đề, qua thảo luận đã có nhiều ý kiến đồng thuận. Trường Cán bộ Tòa án xin lựa chọn và giới thiệu để các Tòa án nhân dân địa phương tham khảo cho việc áp dụng pháp luật.
I. VỀ HÌNH SỰ:
Câu hỏi 1. Tội phạm mà các bị cáo thực hiện rất nghiêm trọng. Khi áp dụng luật, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng đúng điểm, khoản, điều luật của Bộ luật Hình sự. Nhưng khi quyết định hình phạt lại xử quá nhẹ hoặc cho hưởng án treo. Như vậy có vi phạm nghiêm trọng trong áp dụng Bộ Luật Tố tụng Hình sự không? Thế nào là có sự vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử?
Trả lời:
Tại mục 4.4 Phần I Nghị quyết 04/2004/NQ-HĐTP ngày 05-11-2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về xét xử sơ thẩm vụ án hình sự có quy định: “Vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng là trường hợp Bộ luật Tố tụng Hình sự qui định bắt buộc phải tiến hành hoặc tiến hành thủ tục đó, nhưng cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng bỏ qua hoặc thực hiện không đúng, xâm phạm nghiêm trọng đến quyền lợi của bị can, bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc làm cho việc giải quyết vụ án thiếu khách quan toàn diện”.
Khái niệm này đã chỉ rõ những đặc điểm về vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng gồm:

Cơ quan đại diện có tư cách pháp nhân?

19:22:00 |

Cơ quan đại diện của bộ, ngành… có tư cách pháp nhân hay không, có được độc lập tham gia tố tụng hay không? Đó là những tranh cãi xuất phát từ một vụ kiện cụ thể gần đây ở TP.HCM.

Tháng 3-2008, ông Nguyễn Ngọc Hùng đã ký hợp đồng làm bảo vệ kiêm sửa chữa điện nước cho Văn phòng Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN&MT) tại TP.HCM, sau đó hai bên ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn. Cuối năm 2008, hai bên ký tiếp phụ lục hợp đồng, thay đổi tên của bên sử dụng lao động vì lúc này văn phòng chuyển thành cơ quan đại diện Bộ TN&MT tại TP.HCM (gọi tắt là cơ quan đại diện).
Bị đuổi việc vì cơ quan mất xe máy
đầu năm 2010, khu tập thể của cơ quan đại diện mất hai chiếc xe máy. Cơ quan này đã ra văn bản buộc ông Hùng phải bồi thường cho hai chủ xe mỗi người 10 triệu đồng, trừ vào tiền làm thêm giờ. Tiếp đó tháng 9-2011, cơ quan ra quyết định chấm dứt hợp đồng lao động với ông Hùng, lý do là ông không hoàn thành nhiệm vụ, để mất tài sản.
Không đồng ý, ông Hùng khởi kiện ra TAND quận 1 (TP.HCM) yêu cầu tòa hủy quyết định trên, buộc cơ quan phải nhận ông làm việc trở lại và bồi thường thiệt hại trong những ngày không được làm việc. Sau đó, ông Hùng thay đổi nội dung khởi kiện, yêu cầu hủy quyết định cho thôi việc, không yêu cầu trở lại làm việc nhưng cơ quan đại diện phải giải quyết chế độ trợ cấp thôi việc, giao sổ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp và bồi thường tiền lương những ngày không được làm việc cộng với hai tháng lương.
Phía cơ quan đại diện thì cho rằng việc chấm dứt hợp đồng của mình là đúng quy định, đã trả trợ cấp thất nghiệp và sẽ trả sổ bảo hiểm xã hội cho ông Hùng…
Nhận đơn kiện, TAND quận 1 đã xác định cơ quan đại diện là bị đơn. Tháng 7-2012, tòa này xử sơ thẩm đã chấp nhận yêu cầu của ông Hùng, hủy quyết định cho thôi việc, buộc cơ quan đại diện bồi thường các khoản như ông Hùng yêu cầu. Sau đó, phía cơ quan đại diện kháng cáo, cho rằng tòa xử như vậy là không khách quan, đề nghị sửa án sơ thẩm theo hướng bác yêu cầu của ông Hùng.
Là “pháp nhân nhưng không đầy đủ”?
Hai tháng sau, tại phiên xử phúc thẩm của TAND TP, đại diện VKSND TP đã cho rằng việc TAND quận 1 xác định tư cách bị đơn như trên là sai về tố tụng theo Điều 92 BLDS nên đề nghị hủy án để xử sơ thẩm lại. Theo đại diện VKS, bị đơn trong vụ kiện này phải được xác định là Bộ TN&MT chứ không thể là cơ quan đại diện.
Theo TAND TP, xét quyết định của bộ trưởng Bộ TN&MT thì cơ quan đại diện của Bộ tại TP.HCM có các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức sau: Là một tổ chức giúp việc cho bộ trưởng, theo dõi tổng hợp tình hình thực hiện nhiệm vụ về lĩnh vực thuộc phạm vi của Bộ trên địa bàn các tỉnh, thành phía Nam; thực hiện một số nhiệm vụ theo chương trình công tác của Bộ trên địa bàn được giao phụ trách; phối hợp với các cơ quan đơn vị thuộc Bộ thực hiện công tác chuyên môn được giao; làm chủ đầu tư các dự án xây dựng của Bộ tại các tỉnh phía Nam được phụ trách; lập dự toán và tổ chức thực hiện dự toán, quyết toán thu chi ngân sách theo quyết định của Nhà nước và phân cấp của Bộ; quản lý cán bộ, công chức, người lao động, tài chính, tài sản được giao theo quy định của pháp luật và phân cấp của Bộ.
Từ đó, tòa nhận định cơ quan đại diện là đơn vị trực thuộc Bộ TN&MT, là cơ quan đại diện hạch toán báo sổ khi thực hiện dự toán, quyết toán phải theo phân cấp của Bộ, phụ thuộc theo sự phân bổ ngân sách Nhà nước và phân cấp của Bộ, không phải là cơ quan hạch toán độc lập. Mặc dù trong quyết định của bộ trưởng Bộ TN&MT có nội dung: “Cơ quan đại diện có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng” nhưng cơ quan này vẫn phải hạch toán báo sổ. Do vậy, cơ quan này có tư cách pháp nhân nhưng không đầy đủ, vẫn chỉ là một đơn vị phụ thuộc vào pháp nhân là Bộ TN&MT.
Cuối cùng, tòa phúc thẩm đã kết luận: Việc tòa sơ thẩm xác định bị đơn trong vụ án là cơ quan đại diện là không đúng quy định của pháp luật dân sự. Khi thụ lý vụ án, thấy ông Hùng khởi kiện không đúng đối tượng, lẽ ra tòa sơ thẩm phải hướng dẫn ông Hùng xác định lại nhưng không làm, đồng thời chính tòa cũng xác định sai. Do đó để đảm bảo quyền lợi cho ông Hùng, tòa phúc thẩm đã tuyên hủy án sơ thẩm để giải quyết lại.
Phải theo luật!
Vụ án này gây chú ý ở chỗ có thể sẽ trở thành “tiền lệ pháp” cho các tranh chấp phát sinh tại những cơ quan đại diện của các bộ, ngành… sau này khi tòa xác định tư cách tham gia tố tụng.
Luật sư Trần Công Ly Tao (Phó Chủ nhiệm Đoàn Luật sư TP.HCM) đồng tình với nhận định của tòa phúc thẩm và nhấn mạnh: “Trong quan hệ pháp luật, mọi vấn đề phải được xem xét trên quy định chung của pháp luật chứ không nên theo quy ước nội bộ của một cơ quan, đơn vị nào”. Theo ông, trong một vụ kiện, cơ quan đại diện của một bộ chỉ có tư cách pháp nhân đầy đủ khi có sự ủy quyền tham gia tố tụng của bộ chủ quản. Bởi lẽ dù trong quyết định thành lập có nói cơ quan đại diện có tư cách pháp nhân như trong vụ kiện trên nhưng thực tế thì tư cách này không đầy đủ vì hoạt động của cơ quan đại diện vẫn phụ thuộc vào bộ chủ quản.
Đồng tình, PGS-TS Đỗ Văn Đại (Trưởng khoa Luật dân sự Trường ĐH Luật TP.HCM) phân tích thêm: “Quyết định thành lập cơ quan đại diện tại TP.HCM của Bộ TN&MT ghi “cơ quan đại diện có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng” là không ổn. Bởi BLDS do Quốc hội ban hành đã đặt ra các điều kiện của một pháp nhân đầy đủ và rõ ràng, mọi cá nhân, cơ quan, tổ chức phải tuân theo. Mặt khác, về mặt lý luận, cơ quan đại diện của Bộ không thể coi là một tư cách pháp nhân vì không thỏa mãn quy định tại khoản 4 Điều 84 BLDS là tham gia giao dịch một cách độc lập. Bởi lẽ mọi hoạt động của cơ quan đại diện đều đặt dưới sự quản lý, điều hành của Bộ, do đó lập luận của tòa phúc thẩm là chính xác. “Tôi nghĩ rằng các cơ quan nhà nước khi thành lập các cơ quan đại diện thì không nên tùy tiện “tặng” cho nó tư cách pháp nhân, nếu có thì cũng phải thỏa mãn các điều kiện luật định, nếu không pháp luật nói chung sẽ không còn ý nghĩa trong cuộc sống” - ông Đại nói.
Quy định về cơ quan đại diện
“…
2. Văn phòng đại diện là đơn vị phụ thuộc của pháp nhân, có nhiệm vụ đại diện theo ủy quyền cho lợi ích của pháp nhân và được thực hiện nhiệm vụ bảo vệ các lợi ích đó…
4. Văn phòng đại diện, chi nhánh không phải là pháp nhân. Người đứng đầu văn phòng đại diện, chi nhánh thực hiện nhiệm vụ theo ủy quyền của pháp nhân trong phạm vi và thời hạn được ủy quyền.
5. Pháp nhân có quyền, nghĩa vụ dân sự phát sinh từ giao dịch dân sự do văn phòng đại diện, chi nhánh xác lập, thực hiện.”
(Trích Điều 92 BLDS)
THANH TÙNG

Chuyên đề 4d: Một số vấn đề cần rút kinh nghiệm trong xét xử các vụ án tranh chấp lao động

00:45:00 |

Trong số các vụ án lao động mà Toà án nhân dân tối cao đã xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm, có những vụ khá phức tạp xét cả về chứng cứ và luật áp dụng, cũng có vụ án tình tiết đơn giản, chứng cứ đầy đủ nhưng Toàán cấp sơ thẩm, phúc thẩm vẫn áp dụng pháp luật không đúng là do nghiên cứu hồ sơ và các quy định của pháp luật không đầy đủ, không toàn diện, nhận thức pháp luật không đúng dẫn đến sai sót. Dưới đây là một số trường hợp cụ thể cần rút kinh nghiệm.
1. Vụ tranh chấp về sa thải giữa:
Nguyên đơn là bà Trần Thị Ánh Tuyết với bị đơn là Công ty TNHH một thành viên Kỹ nghệ Sói. Nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bà Tuyết làm việc tại Công ty Kỹ nghệ Sói từ ngày 27/8/2008; công việc Trưởng phòng nhân sự, hưởng lương 10.000.000đ/tháng; thời gian thử việc 2 tháng, tính từ ngày 27/8/2008 đến 27/10/2008. Sau khi hết thời gian thử việc, bà Tuyết vẫn tiếp tục làm việc; đến ngày 18/11/2008, Công ty Kỹ nghệ Sói ra quyết định cho bà Tuyết thôi việc, không có lý do. Bà Tuyết khởi kiện về việc bị đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật.
Tại Bản án sơ thẩm số 08/2009/QĐST-LĐ ngày 20/5/2009 TAND huyện TA, tỉnh BD đã xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Tuyết; buộc Công ty Kỹ nghệ Sói nhận bà Tuyết trở lại làm việc và bồi thường cho bà Tuyết theo quy định tại Điều 41 Bộ luật lao động.
Sau khi xử sơ thẩm, Công ty Kỹ nghệ Sói kháng cáo.
Tại Bản án phúc thẩm số 12/2009/LĐ-PT ngày 18/8/2009, TAND tỉnh BD đã quyết định sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Tuyết.

Chuyên đề 4c: Một số sai sót trong quá trình giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại

00:33:00 |
Việc giải quyết các vụ án kinh doanh, thương mại còn phạm một số sai sót, cụ thể như sau:
1. Xác định sai thẩm quyền của Toà án khi thụ lý, giải quyết vụ án:
Ví dụ 1: Vụ án kinh doanh, thương mại tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá giữa các bên đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty lương thực thành phố Hồ Chí Minh; trụ sở tại quận M, thành phố HCM.
- Bị đơn: Doanh nghiệp tư nhân Trần Hoàng Hải; trụ sở tại huyện CL, tỉnh TG.
Ngày 8/11/2007, hai doanh nghiệp ký kết hợp đồng mua bán số 08/HĐMB/2007 mà theo đó ngoài các thoả thuận về việc mua bán hàng hoá (Công ty lương thực thành phố Hồ Chí Minh mua của Doanh nghiệp tư nhân Trần Hoàng Hải 280.000 kg lúa Jasmin trị giá 1.064.000.000 đồng; thời hạn giao hàng đến ngày 31/12/2007; địa điểm giao hàng tại thị xã Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long...) thì tại Điều 5 của hợp đồng, hai bên còn có thoả thuận về việc giải quyết tranh chấp là: “…Trường hợp hai bên không giải quyết được thì Toà Kinh tế Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh là người phán quyết cuối cùng mà hai bên phải chấp hành”.

Chuyên đề 4b: Một số vấn đề cần rút kinh nghiệm trong xét xử các vụ án hôn nhân và gia đình

00:29:00 |

Trong quá trình giải quyết các vụ án về Hôn nhân và gia đình theo thủ tục giám đốc thẩm, Tòa án nhân dân tối cao nhận thấy còn một số sai sót khiến cho việc giải quyết vụ án không đúng pháp luật. Dưới đây là một số ví dụ cụ thể:
1. Về xác định thẩm quyền: Chưa chú ý đến thẩm quyền xét xử đối với vụ án có nhân tố nước ngoài.
Ví dụ: Vụ án “chia tài sản khi ly hôn” giữa nguyên đơn là ông Nguyễn Văn Cả (Kevin Nguyễn) với Bị đơn là bà Nguyễn Thị Toàn Minh, do Tòa án nhân dân huyện ĐB, tỉnh QN xét xử sơ thẩm; TAND tỉnh QN xét xử phúc thẩm (Bản án phúc thẩm số 17/2009/HNGĐ-PT ngày 20/8/2009).
Ông Nguyễn Văn Cả (Kevin Nguyễn) và bà Nguyễn Thị Toàn Minh kết hôn năm 2006. Ngày 16/6/2008, ông Cả nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân tỉnh QN, trong đơn khởi kiện ông đã ghi rõ ông có quốc tịch Việt Nam và Hoa Kỳ (trong hồ sơ có tài liệu thể hiện ông Cả mang hộ chiếu Hoa Kỳ). Theo xác nhận của Công an xã Điện Nam Đông, huyện ĐB thì ông Cả có đăng ký tạm trú tại địa phương từ ngày 28/02/2008 đến ngày 25/12/2008. Như vậy, tuy ông Cả có quốc tịch Việt Nam và thời điểm nộp đơn khởi kiện ông Cả cũng có mặt tại Việt Nam nhưng trường hợp này thì ông Cả vẫn là người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Theo hướng dẫn tại tiểu mục 4.1 mục 4 phần I Nghị quyết số 01/2005/NQ- HĐTP ngày 31/3/2005 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì: “Đương sự ở nước ngoài bao gồm:... Đương sự là người Việt Nam định cư, làm ăn, học tập, công tác ở nước ngoài hoặc người nước ngoài không ở Việt Nam có mặt tại Việt Nam để nộp đơn khởi kiện vụ án dân sự...”. Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 34 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp tỉnh. Nhưng sau khi nhận được đơn khởi của ông Cả, Tòa án nhân dân tỉnh QN lại chuyển đơn cho Tòa án nhân dân huyện ĐB thụ lý và giải quyết là không đúng. Vụ án này còn có sai sót về việc thu thập chứng cứ không đầy đủ nên chưa có căn cứ xác định nhà đất tranh chấp là tài sản riêng hay tài sản chung; ông Nguyễn Văn Cả đã có đủ điều kiện để được sở hữu nhà ở Việt Nam hay không thì chưa được làm rõ, nhưng Tòa án cấp phúc thẩm giao cho ông Cả quản lý, sử dụng nhà đất. Vì vậy, khi Chánh án TANDTC kháng nghị về phần tài sản đã phải hủy bản án phúc thẩm, sơ thẩm giao cho Tòa án nhân dân tỉnh QN xét xử sơ thẩm lại.

Chuyên đề 4a: Một số sai sót cần rút kinh nghiệm trong công tác xét xử, giải quyết các vụ án dân sự

00:22:00 |

I. VỀ TỐ TỤNG:
1. Về thẩm quyền giải quyết vụ án:
Toà án chỉ giải quyết cây trồng trên đất và cho rằng đất chưa có giấy tờ nên không thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án là không đúng:
Vụ tranh chấp quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Kế với bị đơn là bà Phùng Thị Đời, cụ thể như sau:
Bà Kế khởi kiện yêu cầu bà Đời phải trả bà Kế 3.087,7m2 đất rừng trên có 22 cây xoài do bà Kế trồng (số cây còn lại trên đất do bà Đời trồng). Số cây xoài trên diện tích đất này do bà Đời đang quản lý.

Giải đáp một số vấn đề vướng mắc về chuyên môn trong quá trình giảng dạy môn Kỹ năng xét xử vụ án hình sự

17:16:00 |
Giải đáp một số vấn đề vướng mắc về chuyên môn trong quá trình giảng dạy môn Kỹ năng xét xử vụ án hình sự
Chế tài phạt vi phạm hợp đồng theo Luật thương mại năm 2005
Tại cuộc họp ngày 3/11/2011, Bộ môn Hình sự Khoa Đào tạo Thẩm phán đã thảo luận và thống nhất phương án giải đáp một số vấn đề vướng mắc về chuyên môn trong quá trình giảng dạy môn Kỹ năng xét xử vụ án hình sự thời gian vừa qua như sau:

1. Trong phần quyết định của bản án hình sự chỉ viện dẫn các quy định của Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự hay viện dẫn cả các văn bản dưới luật, Nghị quyết hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao?
Trả lời: Trong phần quyết định của bản án hình sự chỉ viện dẫn các quy định liên quan trong Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự; không viện dẫn quy định trong các văn bản dưới luật như Nghị quyết hướng dẫn thi hành BLHS, BLTTHS của Tòa án nhân dân tối cao. Tuy nhiên, đối với vấn đề án phí, văn bản pháp luật quy định cụ thể có hiệu lực cao nhất là Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án (ngày 27/2/2009) nên sẽ viện dẫn Pháp lệnh này.
2. Thái độ khi điều hành phiên tòa của Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa đối với những người tham gia tố tụng là như nhau hay có sự khác biệt giữa bị cáo với người bị hại và những người tham gia tố tụng khác?
Trả lời: Điều 5 BLTTHS quy định nguyên tắc “mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật”. Mặt khác, bị cáo chỉ bị coi là có tội khi có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Vì vậy, việc điều hành phiên tòa của Thẩm phán phải đảm bảo sự bình đẳng, khách quan, không phân biệt giữa bị cáo với những người tham gia tố tụng khác. Trong một số trường hợp đặc biệt như bị cáo, người bị hại là người chưa thành niên, thái độ, giọng nói của Chủ tọa phiên tòa có thể nhẹ nhàng hơn để phù hợp với đặc điểm tâm lý lứa tuổi của những người tham gia tố tụng này.
3. Nên phân định bản án hình sự sơ thẩm thành bản án chính, bản án gốc, bản sao bản án như hướng dẫn tại Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP  ngày 5/11/2004 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hay chỉ có bản án và bản sao bản án theo quy định của BLTTHS?
Trả lời: Theo điểm 2.2 mục 2 phần IV Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP cùng với biên bản nghị án, bản án gốc phải được các thành viên Hội đồng xét xử thông qua và ký (chữ ký “sống”) tại phòng nghị án, được lưu vào hồ sơ vụ án; trên cơ sở bản án gốc, Thẩm phán chủ toạ phiên toà thay mặt Hội đồng xét xử ký các bản án chính và Toà án thực hiện việc giao bản án theo quy định tại Điều 229 của BLTTHS. Hướng dẫn này không trái với quy định của BLTTHS đồng thời tạo thuận lợi cho công tác quản lý, giao nhận bản án (tránh những trường hợp đã xảy ra trên thực tiễn như có hai bản án cùng số, cùng ngày, cùng HĐXX nhưng nội dung khác nhau, không xác định được đâu là bản án gốc, thể hiện quan điểm của HĐXX tại phiên tòa). Vì vậy, khi giảng dạy và học tập cần thống nhất theo hướng dẫn về bản án gốc, bản án chính tại Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP.

KẾT LUẬN MỘT SỐ VẤN ĐỀ MÔN KỸ NĂNG GIẢI QUYẾT CÁC VỤ VIỆC DÂN SỰ

17:00:00 |
KẾT LUẬN MỘT SỐ VẤN ĐỀ MÔN KỸ NĂNG GIẢI QUYẾT CÁC VỤ VIỆC DÂN SỰ
Tổ bộ môn dân sự, Khoa Đào tạo Thẩm phán đã họp và thống nhất một số nội dung chuyên môn để áp dụng vào công tác đào tạo Thẩm phán

Thứ nhất: trong vụ án chia thừa kế là tài sản gắn liền với đất (nhà và đất là di sản thừa kế) người để lại di sản có 02 khối tài sản. Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu chia 01 khối tài sản và đã được UBND xã, phường hoà giải theo Điều 136 Luật đất đai. Khi Toà án thụ lý vụ án và thông báo thụ lý thì bị đơn có yêu cầu chia thừa kế cả khối tài sản thứ 02. Yêu cầu của bị đơn có phải là yêu cầu phản tố không? Toà án có thụ lý, giải quyết cùng với vụ án chia thừa kế hay giải quyết bằng một vụ kiện dân sự khác?
- Yêu cầu chia thừa kế khối tài sản thứ hai của bị đơn không phải là yêu cầu phản tố vì yêu cầu này cùng với yêu cầu của nguyên đơn. Mặt khác, trong vụ án chia thừa kế các đương sự (người thừa kế) đều có quyền yêu cầu chia tài sản thừa kế.
- Tòa án thụ lý yêu cầu chia khối tài sản thứ hai của bị đơn để giải quyết trong cùng vụ án thừa kế nếu khối tài sản thứ 02 không thuộc đối tượng phải thực hiện thủ tục hòa giải tại UBND cấp xã và bị đơn nộp tiền tạm ứng án phí theo thông báo của Tòa án.
Thứ hai: Xác định cha mẹ cho con trong trường hợp cha, mẹ đã chết có thuộc thẩm quyền của Toà án không? Thụ lý, giải quyết Toà án có phải trưng cầu giám định ADN không?
- Theo quy định tại Điều 32, Điều 33 của Nghị định 158/2006/NĐ-CP về đăng ký và quản lý hộ tịch thì Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú của người nhận hoặc người được nhận là cha, mẹ, con thực hiện việc đăng ký cha, mẹ, con đối với người con đã thành niên hoặc người con chưa thành niên hoặc đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự trong trường hợp cha, mẹ đã chết; nếu việc nhận cha, mẹ là tự nguyện và không có tranh chấp. Như vậy, việc xác định cha, mẹ cho con mà không có tranh chấp thì Uỷ ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền giải quyết. Do đó, việc xác định cha, mẹ cho con trong trường hợp cha, mẹ đã chết có tranh chấp thì Toà án có thẩm quyền giải quyết. Tranh chấp này được quy định tại Khoản 4 Điều 27 BLTTDS.
- Khi giải quyết tranh chấp về việc xác định cha, mẹ, con thì Toà án căn cứ vào các tài liệu, giấy tờ (giấy khai sinh, giấy tờ tương đương…) và các chứng cứ khác để xác định cha, mẹ, con. Nếu không xuất trình được các tài liệu, giấy tờ chứng minh về quan hệ cha, mẹ, con thì phải thực hiện việc trưng cầu giám định ADN theo quy định tại Điều 90 BLTTDS
Thứ ba: Người khởi kiện có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn, nuôi con, cấp dưỡng nuôi con và chia tài sản chung. Khi Toà án thụ lý vụ án thì có yêu cầu người khởi kiện nộp tạm ứng án phí ly hôn, cấp dưỡng và chia tài sản không hay chỉ nộp tạm ứng án phí ly hôn và chia tài sản? Nếu các đương sự rút yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, chia tài sản và thỏa thuận được việc ly hôn và nuôi con thì Tòa án giải quyết như thế nào cũng như xử lý về tiền tạm ứng án phí trong trường hợp này như thế nào?
- Theo quy định tại khoản 1 Điều 130 BLTTDS, khoản 1 Điều 25 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án, về nguyên tắc vụ án có bao nhiêu loại án phí thì đương sự phải nộp bấy nhiêu loại tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm trừ trường hợp không phải nộp tiền tạm ứng án phí hoặc được miễn nộp tiền tạm ứng án phí. Như vậy trong vụ án ly hôn, người khởi kiện có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn; nuôi con, cấp dưỡng nuôi con và chia tài sản thì Tòa án phải yêu cầu người khởi kiện nộp 03 loại tạm ứng án phí: tạm ứng án phí ly hôn, cấp dưỡng nuôi con và chia tài sản.
- Trong quá trình giải quyết vụ án ly hôn đương sự rút yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, chia tài sản và thỏa thuận được việc ly hôn và nuôi con Tòa án ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự trong đó ghi nhận việc rút yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, chia tài sản chung và công nhận sự thỏa thuận về việc ly hôn, nuôi con. Theo quy định tại khoản 2 Điều 192 của BLTTDS; Khoản 6 Điều 18 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án, trong trường hợp đình chỉ giải quyết vụ án theo khoản 1 Điều 192 BLTTDS thì mới sung vào công quỹ nhà nước tiền tạm ứng án phí đương sự đã nộp. Pháp luật tố tụng dân sự không có quy định nào đối với trường hợp đương sự rút một phần yêu cầu thì tiền tạm ứng án phí sung vào công quỹ nhà nước. Vì vậy, không có cơ sở pháp lý để sung vào công quỹ nhà nước tạm ứng án phí khi đương sự rút yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, và yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng. Do đó, Tòa án trả lại tiền tạm ứng án phí cho người khởi kiện.
Thứ tư: Trong vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất, biên bản hoà giải tranh chấp đất tại UBND cấp xã không có thành phần Mặt trận Tổ Quốc tham gia hoà giải thì Toà án có chấp nhận biên bản hoà giải đó hay không?
Điều 135 Luật Đất đai năm 2003 quy định “Ủy ban nhân dân cấp xã phải phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận để tiến hành hòa giải”. Do vậy nếu biên bản hòa giải không có thành phần Mặt trận Tổ Quốc tham gia hòa giải thì Tòa án không chấp nhận biên bản hòa giải đó.
Thứ năm: Trong vụ án hôn nhân gia đình Toà án đã ra thông báo nộp tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn là 200.000 đồng, sau đó đương sự bổ sung yêu cầu chia tài sản chung vợ chồng. Toà án ra thông báo nộp tiền tạm ứng án phí bổ sung đối với yêu cầu chia tài sản có đúng không?
Khoản 1 Điều 25 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án quy định “nguyên đơn, bị đơn có yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập trong vụ án tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động phải nộp tiền tạm ứng án phí sơ thẩm, trừ trường hợp không phải nộp tiền tạm ứng án phí hoặc được miễn nộp tiền tạm ứng án phí theo quy định của Pháp lệnh này”. Vì vậy, Tòa án ra thông báo nộp tiền tạm ứng án phí bổ sung đối với yêu cầu chia tài sản là đúng.
Thứ sáu: Kết thúc giai đoạn chuẩn bị xét xử, Toà án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng sau đó nguyên đơn rút đơn khởi kiện. Trong trường hợp này quyết định đình chỉ giải quyết vụ án do Thẩm phán hay Hội đồng xét xử ra quyết định?
- Theo quy định tại Điểm c, Khoản 1 Điều 192 BLTTDS thì sau khi thụ lý vụ án, người khởi kiện rút đơn khởi kiện và được Tòa án chấp nhận thì Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án. Như vậy, mặc dù pháp luật quy định là Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án và  không có quy định cụ thể Thẩm phán hay Hội đồng xét xử ra quyết định đình chỉ giải quyết trong từng trường hợp cụ thể. Tuy nhiên, vì Tòa án đã ra quyết định đưa vụ án ra xét xử (Hội đồng xét xử đã được ấn định) quyết định này đã được gửi cho những người tham gia tố tụng, người tiến hành tố tụng, Viện kiểm sát cùng cấp nên về mặt pháp lý việc giải quyết vụ án kể từ thời điểm này thuộc thẩm quyền của Hội đồng xét xử do đó việc ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án phải do Hội đồng xét xử quyết định.
- Mặt khác nếu trong vụ án bị đơn có yêu cầu phản tố; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập thì phải mở phiên tòa công khai để giải quyết vấn đề thay đổi địa vị tố tụng nếu bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vẫn giữ nguyên yêu cầu độc lập.
Thứ bảy: Khi xác định người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án, nếu đương sự chỉ có quyền lợi không có nghĩa vụ thì xác định họ tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đúng không hay chỉ xác định là người có quyền lợi liên quan?
 Bộ luật tố tụng dân sự chỉ quy định người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mà không quy định người có quyền lợi liên quan, người có nghĩa vụ liên quan (Khoản 4 Điều 56 BLTTDS) nên đương sự chỉ có quyền lợi hoặc chỉ có nghĩa vụ liên quan thì vấn xác định họ là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Thứ tám: ông A là người Đài Loan không biết Tiếng Việt mà chỉ nghe và nói được ít Tiếng Việt. Ông A có đơn khởi kiện bằng Tiếng Việt và ký tên ở dưới. Trong trường hợp này đơn khởi kiện có được chấp nhận hay không?
Theo quy định của BLTTDS thì đơn khởi kiện phải thỏa mãn các điều kiện về hình thức và nội dung quy định tại Điều 164 BLTTDS. Như vậy, trong trường hợp này đơn khởi kiện của ông A bằng Tiếng Việt, ông A ký tên, đảm bảo điều kiện về nội dung và hình thức thì Tòa án phải nhận đơn khởi kiện và vào sổ nhận đơn theo thủ tục chung.
Thứ chín: Trong giải quyết vụ án hình sự, phần dân sự được tách ra để giải quyết bằng một vụ án dân sự khác thì thời hiệu khởi kiện được tính từ thời điểm nào (từ khi lợi ích hợp pháp bị xâm phạm hay từ khi bản hình sự có hiệu lực pháp luật)?
- Việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự được tiến hành cùng với việc giải quyết vụ án hình sự, trong trường hợp vụ án hình sự phải giải quyết vấn đề bồi thường, bồi hoàn mà chưa có điều kiện chứng minh và không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án hình sự thì có thể tách ra để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự (Điều 28 BLTTHS và mục 2 phần I Công văn 121/2003/KHXX về việc giải quyết các vấn đề liên quan đến tài sản, bồi thường thiệt hại trong vụ án hình sự).
- Theo quy định tại Điều 607 BLDS 2005 thì thời hiệu khởi kiện yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại là hai năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác bị xâm, phạm do đó thời hiệu khởi kiện trong vụ án bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng tính từ ngày xảy ra hành vi xâm phạm tài sản, sức khỏe, tính mạng của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác. Trường hợp giải quyết vụ án hình sự, Tòa án tách phần dân sự để giải quyết bằng một vụ án khác thì thời hiệu khởi kiện sẽ được tính từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm. Tuy nhiên, căn cứ khoản 1 Điều 161 BLDS 2005 thì thời gian các cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết vụ án hình sự không tính vào thời hiệu khởi kiện.
Thứ mười: Trong vụ án hình sự cơ quan tiến hành tố tụng đã ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự. Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì thời hiệu khởi kiện tính từ khi quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân bị xâm phạm hay từ khi có quyết định không khởi tố vụ án hình sự?
Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong trường hợp này cũng được tính từ khi quyền và lợi ích bị xâm phạm, thời gian cơ quan điều tra giải quyết vụ án hình sự không tính vào thời hiệu khởi kiện theo Khoản 1 Điều 161 BLDS.
Thứ mười một: Trong vụ án bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng người khởi kiện xác định trong đơn khởi kiện người bị kiện không đúng thì xử lý như thế nào, thụ lý vụ án hay trả lại đơn khởi kiện? Thụ lý vụ án thì có đưa người có trách nhiệm bồi thường thiệt hại vào là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không? Và nếu nguyên đơn không thay đổi yêu cầu vẫn kiện người không có trách nhiệm bồi thường thiệt hại thì có buộc người có trách nhiệm bồi thường thiệt hại phải bồi thường thiệt hại không hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn?
- Trường hợp người khởi kiện xác định người bị kiện không đúng thì Tòa án phải hướng dẫn người khởi kiện thay đổi người bị kiện (là người có trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật nội dung). Nếu người khởi kiện không thay đổi thì Tòa án vẫn thụ lý vụ án nếu có đủ điều kiện thụ lý vụ án (vì không thuộc trường hợp trả lại đơn khởi kiện theo Điều 168 BLTTDS). Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đưa người có trách nhiệm bồi thường thiệt hại vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
- Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn không yêu cầu người bị kiện bồi thường thiệt hại mà chuyển sang yêu cầu người có trách nhiệm bồi thường thiệt hại phải bồi thường thiệt hại thì Tòa án buộc người có trách nhiệm bồi thường thiệt hại phải bồi thường thiệt hại cho nguyên đơn (nếu có căn cứ), nếu nguyên đơn vẫn yêu cầu người không có trách nhiệm bồi thường thiệt hại phải bồi thường thiệt hại (là người bị kiện theo đơn khởi kiện) thì Tòa án không chấp nhận yêu cầu   
Thứ mười ba: Khi bị đơn có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập; đương sự bổ sung yêu cầu thì TA có phải thông báo về yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập, yêu cầu mới không?
- Điều 178 BLTTDS quy định “thủ tục yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập được thực hiện theo quy định của Bộ luật này về thủ tục khởi kiện của nguyên đơn”, mục 12 Phần I Nghị Quyết 02/2006/NQ-HĐTP. Như vậy, khi có yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập thì Tòa án phải thông báo cho các đương sự biết.
- BLTTDS không có quy định về thông báo trong trường hợp đương sự bổ sung yêu cầu tuy nhiên áp dụng các nguyên tắc cơ bản của BLTTDS: cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự, bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự thì Tòa án phải thực hiện việc thông báo cho các đương sự biết về yêu cầu bổ sung.
Thứ mười bốn: Trong vụ án ly hôn, người con chưa thành niên là đối tượng được cấp dưỡng tham gia tố tụng với tư cách gì?
Trong trường hợp này, người con chưa thành niên là người có quyền lợi được cấp dưỡng nên căn cứ khoản 4 Điều 56 BLTTDS được xác định là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, tuy nhiên giải quyết vụ án ly hôn có những đặc thù riêng, để tránh tình trạng ảnh hưởng tinh thần, thể chất của người con chưa thành niên nên áp dụng nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của con chưa thành niên được quy định trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, Tòa án không đưa người con chưa thành niên vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Thứ mười lăm: Người gây thiệt hại chưa đủ 15 tuổi trong vụ án bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng tham gia tố tụng với tư cách gì?
Trường hợp 1: người gây thiệt hại chưa đủ 15 tuổi trong vụ án bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nếu tài sản của cha, mẹ họ không đủ để bồi thường mà họ có tài sản riêng theo Khoản 2 Điều 606 BLDS “người chưa thành niên dưới mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu, trừ trường hợp quy định tại điều 621 của Bộ Luật này”.
Trường hợp 2: người gây thiệt hại chưa đủ 15 tuổi trong vụ án bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng không có tài sản riêng thì đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người gây thiệt hại.
Thứ mười sáu: Đương sự có phải nộp tiền tạm ứng án phí đối với yêu cầu bổ sung hay không?
- Về nguyên tắc, khi đương sự có yêu cầu thì phải nộp tạm ứng án phí. Do vậy, trường hợp đương sự có yêu cầu bổ sung thì cũng phải nộp tạm ứng án phí bổ sung.
- Căn cứ: Khoản 1 Điều 25 Pháp lệnh 10/2009/PL-UBTVQH12 “nguyên đơn, bị đơn có yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập trong vụ án tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động phải nộp tiền tạm ứng án phí sơ thẩm, trừ trường hợp không phải nộp tiền tạm ứng án phí hoặc được miễn nộp tiền tạm ứng án phí theo quy định của Pháp lệnh này”.
Thứ mười bảy: Khi đương sự bổ sung yêu cầu, tòa án thụ lý yêu cầu này giải quyết trong cùng vụ án thì thời hạn xét xử có tính lại không?
Pháp luật tố tụng dân sự không có quy định về việc tính lại thời hạn xét xử trong trường hợp Tòa án thụ lý yêu cầu bổ sung của đương sự nên thời hạn xét xử không tính lại.

Trưởng Bộ Môn
ThS. Nguyễn Thị Hạnh
Trưởng Khoa ĐT Thẩm phán
PGS.TS. Nguyễn Thành Trì

Nhiều bài học kinh nghiệm trong công tác xét xử

16:55:00 |
Nhiều bài học kinh nghiệm trong công tác xét xử

Tại Hội nghị rút kinh nghiệm công tác xét xử của Thẩm phán TANDTC vừa qua, các đại biểu đã trình bày nhiều tham luận và thảo luận sôi nổi, đóng góp nhiều ý kiến, những điểm cần rút kinh nghiệm cũng như chỉ ra vướng mắc, kiến nghị trong công tác xét xử. Báo Công Lý xin giới thiệu một số tham luận của một số đại biểu.

Phó Chánh án Bùi Ngọc Hòa phát biểu kết luận

Ông Đặng Xuân Đào, Chánh tòa Tòa Kinh tế TANDTC: Sai sót phổ biến trong các vụ án kinh doanh thương mại là xác định sai tư cách người tham gia tố tụng. Trong vụ án kinh doanh thương mại có đương sự là doanh nghiệp tư nhân, xác định nguyên đơn, bị đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là “chủ doanh nghiệp tư nhân…” chứ không phải là “doanh nghiệp tư nhân” vì theo khoản 3 Điều 143 Luật Doanh nghiệp năm 2005 quy định “Chủ doanh nghiệp tư nhân là nguyên đơn, bị đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước Trọng tài hoặc Tòa án trong các tranh chấp liên quan đến doanh nghiệp”. Một sai sót khác thường thấy là xác định chi nhánh của doanh nghiệp là nguyên đơn hoặc bị đơn trong vụ án kinh doanh thương mại.

Ông Nguyễn Huy Du, Trưởng ban Thư ký TANDTC: Trong vụ án có bị cáo bị kết án tử hình, sau khi bản án có hiệu lực pháp luật thì Tòa án không chuyển ngay hồ sơ vụ đến Ban Thư ký TANDTC để Chánh án TANDTC tổ chức nghiên cứu hồ sơ xem xét để có quyết định kháng nghị hoặc không kháng nghị theo quy định tại Điều 258 BLTTHS. Có trường hợp Tòa án không chuyển ngay hồ sơ mà còn đưa vào lưu trữ, chỉ đến khi TANDTC phát hiện ra hoặc Trại tạm giam có công văn gửi TANDTC báo cáo về việc người bị kết án tử hình ốm nặng và TANDTC có công văn yêu cầu thì mới chuyển hồ sơ vụ án đến TANDTC để giải quyết. Có một số vụ án, sau khi xét xử sơ thẩm không thấy việc kháng cáo nhưng Tòa án chưa xác minh làm rõ người bị kết án tử hình có kháng cáo hay không, bản án có bị kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm hay không, mà đã chuyển hồ sơ vụ án về Ban Thư ký TANDTC. Có trường hợp chưa hết thời hạn kháng nghị của VKS cấp trên thì Tòa án đã chuyển hồ sơ đến Ban Thư ký để giải quyết.

Ông Trần Văn Cò, Chánh tòa Tòa Phúc thẩm TANDTC tại Tp. Hồ Chí Minh: Khi Luật Tố tụng hành chính mới có hiệu lực pháp luật, Tòa án cấp phúc thẩm sẽ không tuyên hủy bản án sơ thẩm trong trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm xác minh, thu thập chứng cứ không đầy đủ mà Tòa án cấp phúc thẩm không thể bổ sung được, như quy định tại điểm c khoản 2 Điều 64 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính.

Thay vào đó nếu gặp trường hợp trên thì Tòa án cấp phúc thẩm áp dụng Điều 189 Luật Tố tụng hành chính “… trước khi mở phiên tòa hoặc tại phiên toà phúc thẩm, người kháng cáo, VKS kháng nghị, người có quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có quyền bổ sung chứng cứ mới. Tòa án cấp phúc thẩm tự mình hoặc theo yêu cầu của đương sự tiến hành xác minh chứng cứ mới được bổ sung. Tòa án có thể ủy thác chứng minh chứng cứ theo quy định tại Điều 86 của Bộ luật này…” để yêu cầu đương sự bổ sung chứng cứ giải quyết vụ án, Tòa án cấp phúc thẩm chỉ hủy bản án sơ thẩm khi có chứng cứ mới quan trọng mà Tòa án cấp phúc thẩm không thể bổ sung được.

Ông Phạm Thanh Bình, Phó Chánh tòa Tòa Dân sự TANDTC: Theo quy định bị đơn phải đang còn sống tại thời điểm nguyên đơn kiện. Nếu bị đơn chết mà quyền và nghĩa vụ về tài sản của họ được thừa kế thì Tòa án phải xem xét để đưa những người thừa kế của họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người thừa kế quyền, nghĩa vụ tố tụng. Trong thực tế có vụ án bị đơn chết, nhưng vẫn được Tòa án xác định là bị đơn là không đúng quy định của pháp luật.

Hay sai sót trong sửa chữa, bổ sung bản án. Theo khoản 1 Điều 240 BLTTDS: “Sau khi tuyên án xong thì không được sửa chữa, bổ sung bản án, trừ trường hợp phát hiện lỗi rõ ràng về chính tả, về số liệu do nhầm lẫn hoặc tính toán sai…” và Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP cũng đã hướng dẫn. Tuy nhiên, có Tòa án sau khi ban hành bản án thì Thẩm phán chủ tọa phiên tòa lại ban hành công văn thông báo việc sửa chữa, bổ sung bản án, nhưng thực tế lại quyết định thêm nội dung mới. Sửa chữa, bổ sung bản án nhưng lại đưa thêm nội dung mới vào là vi phạm nghiêm trọng tố tụng.

Ông Đào Sỹ Hùng, Phó Chánh án TAND Tp. Hà Nội: Có trường hợp Tòa án cấp phúc thẩm hủy án vì lý do vi phạm nguyên tắc hòa giải tại Điều 180 BLTTDS khi không tiến hành hòa giải yêu cầu bổ sung của đương sự, tuy nhiên hồ sơ vụ án thể hiện cấp sơ thẩm đã tiến hành hòa giải nhiều lần, trong đó có cả yêu cầu bổ sung của đương sự. Tòa án cấp sơ thẩm chỉ sơ suất khi đương sự nộp tiền dự phí yêu cầu bổ sung, Thẩm phán thông báo các bên đến hòa giải thì phía bị đơn vắng mặt. Vì vậy Tòa án cấp sơ thẩm đã không tiến hành buổi hòa giải tiếp theo mà đưa vụ án ra xét xử. Trường hợp này Tòa án cấp phúc thẩm hủy án là chưa thể hiện sự nghiên cứu toàn diện vụ án. Việc này cũng không phải vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Hoặc những vụ án ở cấp sơ thẩm mặc dù đã được giải thích nhưng người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không yêu cầu độc lập, đến cấp phúc thẩm họ mới có yêu cầu độc lập, trong trường hợp này Tòa án cấp phúc thẩm cũng không nên hủy án vì đây là do đương sự không chấp hành hướng dẫn của Tòa án.

nhãn totunghinhsu

THÔNG TIN TỐ TỤNG HÌNH SỰ

banner

ĐÀO TẠO NGHIỆP VỤ XÉT XỬ TẠI TP. HỒ CHÍ MINH

VĂN BẢN MỚI BAN HÀNH

VĂN BẢN MỚI

TIN PHÁP ĐÌNH


THONG TIN TRANG NGHIỆP VỤ