Đang tải dữ liệu...
Thẩm Phán 13 Lớp B (thamphan13) /* Menu Horizontal top*/

Tạo banner chạy dọc hai bên

hinhlop1

hinhlop


Download Hình

Tiện ích bài đăng có ảnh thumbnail chạy ngang

Trao đổi về bài viết “Vướng mắc trong việc thụ lý yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập trong vụ án hôn nhân và gia đình”

13:50:00 |

Vướng mắc trong việc thụ lý yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập trong vụ án hôn nhân và gia đình 

Theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, sau khi Tòa án thụ lý yêu cầu của nguyên đơn, trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền đưa ra yêu cầu độc lập. Để được Tòa án thụ lý, giải quyết trong cùng vụ án thì yêu cầu của bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan phải đáp ứng những điều kiện nhất định. Tuy nhiên, để đánh giá đúng các điều kiện mà pháp luật tố tụng dân sự quy định khi thụ lý yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập không hề đơn giản. Đối với các vụ án hôn nhân, việc vừa tồn tại quan hệ tranh chấp liên quan đến nhân thân (về hôn nhân, về con chung) còn tồn tại quan hệ tranh chấp liên quan đến tài sản. Cho nên, việc đánh giá các điều kiện để thụ lý yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập càng khó khăn hơn. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin nêu lên những quan điểm khác nhau khi Tòa án thụ lý yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập trong các vụ án hôn nhân và gia đình mà người khởi kiện không tranh chấp tài sản chung của vợ chồng qua 02 vụ án cụ thể.
Vụ án thứ nhất đối với trường hợp thụ lý yêu cầu phản tố
Ông Lê Văn H (cư trú: tổ 3, ấp T, xã H, huyện T, tỉnh A) được gia đình hai bên tổ chức lễ cưới với bà Trần Thị T (cư trú cùng tổ với ông Hùng) vào tháng 3/2012, có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Đến tháng 6/2013, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do tính tình không phù hợp, thường xuyên cãi vã. Vì vậy, ông H khởi kiện xin ly hôn với bà T; về tài sản chung, nợ chung và con chung thì không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngày 07/11/2013, Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh A thụ lý yêu cầu kiện của ông H.
Trong quá trình giải quyết vụ án, ngày 13/11/2013, bà T đồng ý ly hôn theo yêu cầu của ông Hùng và có yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng là số nữ trang được cha mẹ hai bên cho chung vợ chồng trong ngày cưới gồm: bông  tai, dây chuyền, vòng đeo cổ, lắc tay. Tất cả số nữ trang nêu trên do bà Võ Thị Th (mẹ chồng bà T) đang quản lý.
Ngày 13/12/2013, Tòa án đã thụ lý yêu cầu phản tố của bà T về việc chia tài sản chung của vợ chồng. Cũng trong ngày 13/12/2013, Tòa án đưa bà Th vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Tuy nhiên, bà Th, ông H cùng xác định, bà Th không giữ tài sản như ý kiến, yêu cầu của bà T.
Việc Tòa án nhân dân huyện T thụ lý yêu cầu phản tố của bà T đã tồn tại nhiều ý kiến khác nhau.
Ý kiến thứ nhất cho rằng, bà T xác định số nữ trang là tài sản chung của vợ chồng hiện đang do bà Th (mẹ chồng bà T) đang giữ nên bà T không được yêu cầu phản tố chia tài sản chung của vợ chồng, vì nếu có cơ sở xác định số vàng hiện đang do bà Th quản lý thì bà T cần kiện đòi bà Th trước (ông H sẽ tham gia tố tụng với tư cách đồng nguyên đơn hoặc người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án đòi tài sản). Khi có bản án buộc bà Th trả lại tài sản cho bà T, ông H thì bà T mới được quyền yêu cầu chia tài sản chung.
Ý kiến thứ hai cho rằng, việc Tòa án thụ lý yêu cầu phản tố của bà T là đúng quy định của pháp luật. Bởi vì, sau khi thụ lý yêu cầu phản tố, Tòa án đã đưa bà Th vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Nếu bà Th thừa nhận có giữ vàng của vợ chồng bà T thì Tòa án tiến hành chia theo quy định của pháp luật. Ngược lại, Tòa án sẽ bác yêu cầu của bà T.
Qua nội dung vụ án trên và các quan điểm trên, chúng tôi cho rằng, theo quy định của Điều 176 BLTTDS, yêu cầu phản tố của bị đơn phải đảm bảo các căn cứ:
Thứ nhất, đối tượng mà yêu cầu này hướng đến chỉ có thể là nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập.
Thứ hai, yêu cầu này phải đáp ứng một trong các điều kiện: (1) Yêu cầu phản tố để bù trừ nghĩa vụ với yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập; (2) Yêu cầu phản tố được chấp nhận dẫn đến loại trừ việc chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập; (3) Giữa yêu cầu phản tố và yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có sự liên quan với nhau và nếu được giải quyết trong cùng một vụ án thì làm cho việc giải quyết vụ án được chính xác và nhanh hơn.
Thứ ba, thời điểm đưa ra yêu cầu phản tố là trước khi Toà án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm.
Ngoài ra, theo Điều 178 BLTTDS thì “Thủ tục yêu cầu phản tố … được thực hiện theo quy định của Bộ luật này về thủ tục khởi kiện của nguyên đơn”. Cho nên, việc thụ lý yêu cầu phản tố còn phải đảm bảo các điều kiện: phải làm đơn theo đúng hình thức, nội dung được quy định tại Điều 164 BLTTDS; đồng thời, cùng với việc nộp đơn yêu cầu phản tố, bị đơn phải cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh yêu cầu của mình là có căn cứ hợp pháp theo 165 BLTTDS….
Đối chiếu các quy định này với yêu cầu của bà T thấy rằng, yêu cầu của bà T được đưa ra trong giai đoạn chuẩn bị xét xử nên đảm bảo về thời gian. Bà T yêu cầu chia tài sản của vợ chồng và bà Th không có yêu cầu độc lập trong vụ án nên yêu cầu của bà T chỉ có thể đối với ông H. Về điều kiện, yêu cầu của bà T không phải để bù trừ nghĩa vụ với nguyên đơn; không thể dẫn đến loại trừ việc chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn nếu được chấp nhận (vì ông H chỉ yêu cầu ly hôn). Cho nên, chỉ có thể thụ lý yêu cầu này theo điều kiện được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 176 BLTTDS. Đó là, yêu cầu của bà T “có sự liên quan” với yêu cầu ly hôn của ông H và nếu được giải quyết trong cùng một vụ án thì làm cho việc giải quyết vụ án được chính xác và nhanh hơn.

Một số vướng mắc trong việc xem xét, thẩm định tại chỗ khi giải quyết các vụ án dân sự

22:14:00 |
Theo quy định tại điều 85, điều 89 Bộ luật tố tụng dân sự, xem xét, thẩm định tại chỗ là một trong những biện pháp để thu thập tài liệu, chứng cứ do Thẩm phán tiến hành khi thấy cần thiết, có thể là theo yêu cầu của đương sự hoặc do Thẩm phán chủ động tiến hành và phải được thực hiện theo trình tự do pháp luật quy định.
Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin đề cập đến hai vướng mắc chính trong thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật về xem xét, thẩm định tại chỗ: thứ nhất là chi phí cho việc xem xét, thẩm định tại chỗ; thứ hai là cách xử lý khi đương sự không hợp tác với Tòa án trong việc xem xét, thẩm định tại chỗ.
1. Về vấn đề chi phí cho việc xem xét, thẩm định tại chỗ:  
Chi phí cho việc xem xét, thẩm định tại chỗ là một trong những chi phí tố tụng. Tuy nhiên, Mục 2 chương IX Bộ luật tố tụng dân sự về các chi phí tố tụng khác (ngoài án phí, lệ phí Tòa án) chỉ quy định về chi phí giám định, định giá tài sản, chi phí cho người làm chứng, người phiên dịch, luật sư mà không có điều nào quy định về chi phí cho việc xem xét, thẩm định tại chỗ và cũng không có điều luật nào quy định rằng chi phí cho việc xem xét, thẩm định tại chỗ không phải một trong những chi phí tố tụng khác và không cho phép Tòa án thu tiền của đương sự để chi cho việc xem xét, thẩm định tại chỗ. Vì vậy, việc các Tòa án hiện nay vẫn xác định chi phí cho việc xem xét, thẩm định tại chỗ là chi phí tố tụng khác và thực hiện việc thu, chi liên quan đến hoạt động tố tụng này là không sai. Tuy nhiên, do không có quy định cụ thể về trình tự thủ tục thu, chi, xác định trách nhiệm của các bên đương sự liên quan đến loại chi phí này nên mỗi Tòa án thực hiện một cách khác nhau, trong cùng một Tòa án, mỗi thẩm phán cũng có cách thực hiện khác nhau, thậm chí cùng một Thẩm phán nhưng cũng có những vụ án thực hiện không giống nhau; nhưng nhìn chung, các Tòa án đã áp dụng các nguyên tắc chung của Bộ luật tố tụng dân sự quy địnhvề các chi phí tố tụng khác tại Mục 2 chương IX Bộ luật này trong việc xem xét, thẩm định tại chỗ và thực tế chi phí được vận dụng một cách linh hoạt tùy thuộc vào từng vụ án cụ thể trên tinh thần tiết kiệm chi.

Kỹ năng viết bản án dân sự phúc thẩm

19:02:00 |
Bản án dân sự phúc thẩm được quy định tại Điều 279 Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) và được hướng dẫn thực hiện theo mẫu số 22, ban hành kèm theo Nghị quyết số 06/2012/NQ-HĐTP ngày 03 tháng 12 năm 2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (sau đây xin viết tắt là Nghị quyết số 06/2012).
I. Viết phần mở đầu của bản án.
Khoản 3 Điều 279 BLTTDS quy định:
“3. Trong phần mở đầu phải ghi rõ tên của Tòa án xét xử phúc thẩm; số và ngày thụ lý vụ án; số bản án và ngày tuyên án; họ, tên của các thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án, kiểm sát viên, người giám định, người phiên dịch; tên, địa chỉ của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, cơ quan, tổ chức khởi kiện; người đại diện hợp pháp, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ; người kháng cáo, Viện kiểm sát kháng nghị; xét xử công khai hoặc xét xử kín; thời gian và địa điểm xét xử.”
1. Cách ghi số, ký hiệu và trích yếu trong bản án
Bản án dân sự phúc thẩm được hiểu theo nghĩa rộng của BLTTDS và bao gồm các vụ án xét xử phúc thẩm về các tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động. Ký hiệu của bản án được hướng dẫn tại Điều 3 Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03 tháng 12 năm 2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ nhất “Những quy định chung” của Bộ luật tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự (sau đây viết tắt là Nghị quyết số 03/2012).
Ví dụ: Nếu là bản án dân sự phúc thẩm thì ký hiệu là DS-PT, nếu là bản án lao động phúc thẩm thì ghi là LĐ-PT. Tùy theo quan hệ pháp luật có tranh chấp và được Tòa án sơ thẩm giải quyết là loại quan hệ pháp luật nào và bản án phúc thẩm xét xử về mối quan hệ pháp luật nào để ghi ký hiệu tương ứng.
- Ghi trích yếu của bản án: Cần xác định tranh chấp mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử là tranh chấp nào để ghi trích yếu của bản án phúc thẩm.
Ví dụ: “V/v tranh chấp về hợp đồng dân sự thuê nhà ở” hoặc nếu là tranh chấp về nợ thì ghi là “V/v tranh chấp đòi nợ”…
- Ghi tên Tòa án xét xử phúc thẩm: Thẩm quyền xét xử phúc thẩm chỉ có ở Tòa án nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và Tòa án nhân dân tối cao. Tòa án nào xét xử phúc thẩm thì ghi chính xác tên của Tòa án đó.
Ví dụ: Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
Hoặc: Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội.
Hoặc: Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng.
- Ghi số bản án: Ví dụ: Bản án số 17/2013/LĐ-PT
- Ghi ngày của bản án: Ngày của bản án phúc thẩm là ngày tuyên án, không phân biệt là vụ án được xét xử trong một ngày hoặc trong nhiều ngày.     
Ví dụ: Ngày tuyên án là ngày 20/08/2013 thì ngày tháng năm của bản án phúc thẩm cũng chính là ngày 20 tháng 08 năm 2013.

Kỹ năng viết bản án dân sự sơ thẩm

18:48:00 |
Viết bản án dân sự sơ thẩm được quy định tại Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự (sau đây viết tắt là BLTTDS) và được hướng dẫn thực hiện theo mẫu bản án sơ thẩm ban hành kèm theo Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP ngày 31/3/2005 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Theo Điều 39 của Nghị quyết Hội đồng Thẩm phán số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 thì trong 20 loại mẫu văn bản tố tụng ban hành kèm theo Nghị quyết này, không có mẫu bản án sơ thẩm. Tại khoản 1 Điều 40 của Nghị quyết này cũng không đề cập đến hiệu lực thi hành của Nghị quyết Hội đồng Thẩm phán số 01/2005/NQ-HĐTP ngày 31/3/2005. Do vậy, mẫu bản án sơ thẩm đã được ban hành kèm theo Nghị quyết này của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao vẫn được áp dụng trong công tác xét xử các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động.
I/ Viết phần mở đầu của bản án
Khoản 3 Điều 238 BLTTDS quy định “trong phần mở đầu phải ghi rõ Tòa án sẽ xử sơ thẩm; số, ngày, tháng, năm thụ lý vụ án; số bản án, ngày tuyên án; họ tên các thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên, người giám định, người phiên dịch, họ tên, địa chỉ của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, cơ quan, tổ chức khởi kiện; người đại diện hợp pháp, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; đối tượng tranh chấp; số, ngày, tháng, năm của Quyết định đưa vụ án ra xét xử; xét xử công khai hoặc xét xử kín; thời gian, địa điểm xét xử”. Những quy định nêu trên, đã được thể hiện đầy đủ trong mẫu bản án sơ thẩm và hướng dẫn sử dụng mẫu bản án sơ thẩm ban hành cùng Nghị quyết số 01/2005 ngày 31/3/2005 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Tuy nhiên, khi sử dụng mẫu này cần chú ý một số vấn đề sau đây:

Ly hôn với người mất tích - Khởi kiện vụ án ly hôn với người mất tích có phải qua thủ tục tuyên bố mất tích hay không?

02:02:00 |
Ly hôn là chấm dứt quan hệ hôn nhân theo yêu cầu của vợ hoặc của chồng hoặc cả hai vợ chồng do Toà án công nhận hoặc quyết định. Tòa án là cơ quan duy nhất có trách nhiệm phán quyết chấm dứt quan hệ hôn nhân của vợ chồng.

Phán quyết ly hôn của Tòa án thể hiện dưới hai hình thức bản án hoặc quyết định. Trong trường hợp hai bên thuận tình ly hôn, thỏa thuận với nhau giải quyết được tất cả các nội dung quan hệ tình cảm, con, tài sản chung khi ly hôn thì Toà án công nhận ra phán quyết dưới hình thức là quyết định. Nếu vợ chồng có mâu thuẫn, tranh chấp thì Tòa án ra phán quyết dưới dạng bản án ly hôn.

Điều 89 khoản 2 Luật hôn nhân gia đình năm 2000 quy định “Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn”.

Như vậy, một người được quyền yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn đối với người đã được Tòa án tuyên bố mất tích và những thủ tục tiến hành giải quyết cho ly hôn đều theo thủ tục chung quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi bổ sung năm 2011 như gửi thông báo thụ lý, thông báo hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử cho vợ, chồng. Tuy nhiên một vấn đề đặt ra là vợ hoặc chồng đã được Tòa án tuyên bố là mất tích thì việc gửi, tống đạt các quyết định trên cho đương sự là không thể nào nhận được, biết được. Do vậy, các biện pháp tống đạt cho đương sự đã được tuyên bố là mất tích có cần thiết hay không? Phải tống đạt theo thủ tục chung của Bộ luật tố tụng dân sự hay cho rằng đây là trường hợp ngoại lệ không cần tiến hành tống đạt. Dưới đây là ví dụ điển hình:

Vụ án tranh chấp ly hôn, nguyên đơn là anh Vũ Triệu Phong (sinh năm 1960), bị đơn là chị Bùi Thị Nga (sinh năm 1966; đều trú quán ở thôn Lương Quán, xã Nam Sơn, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng).

Anh Phong và chị Nga sống với nhau từ năm 1985 không có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu vợ chồng sống vui vẻ, hạnh phúc nhưng sau này phát sinh mâu thuẫn. Đến năm 2005, chị Nga bỏ nhà ra đi, anh Phong đã đi tìm kiếm nhưng không có tin tức gì của chị Nga. Ngày 18/10/2010, anh Phong có đơn xin yêu cầu tuyên bố mất tích với chị Nga. Ngày 10/11/2011, Tòa án nhân dân huyện An Dương đã mở phiên họp và ra quyết định tuyên chị Nga mất tích. Ngày 07/12/2011, anh Phong có đơn khởi kiện xin ly hôn đối với chị Nga. Quá trình thụ lý giải quyết Tòa án gửi thông báo thụ lý vụ án cho anh ruột của chị Nga, không tiến hành hòa giải, niêm yết quyết định đưa vụ án ra xét xử tại Ủy ban nhân dân xã Nam Sơn. Sau đó đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị đơn.

Quan điểm thứ nhất cho rằng, Tòa án đã vi phạm Điều 146, 149, 155 và Điều 199 Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi bổ sung năm 2011.

Áp dụng pháp luật giải quyết tranh chấp về tài sản khi tuyên bố không công nhận là vợ chồng

01:15:00 |
Điều 11 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 (Luật HN & GĐ) và hướng dẫn tại Mục 2 Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 đã quy định trường hợp nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không được pháp luật thừa nhận là hôn nhân hợp pháp. Tại mục 5.4.1.4, khoản 5, điểm C, phần thứ 3 của “Sổ tay Thẩm phán” cũng nêu rất rõ văn bản án dụng và các trường hợp không được công nhận là vợ chồng. Luật HN & GĐ có chương III quy định về quan hệ giữa vợ và chồng (trong đó có quy định về chế độ tài sản chung vợ chồng, việc đại diện cho nhau, trách nhiệm liên đới của một bên đối với giao dịch do bên kia thực hiện, tài sản riêng…) và chương X quy định về giải quyết các vấn đề về ly hôn (con cái, tài sản…). Tuy nhiên, giải quyết các vấn đề về tài sản đối với trường hợp hôn nhân không hợp pháp (hủy hôn nhân trái pháp luật, không công nhận là vợ chồng) thì lại chỉ được quy định tại điểm c mục 3 Nghị quyết số 35/2000/QH ngày 09/6/2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình (Nghị Quyết 35/2000/QH10): “Kể từ ngày 01 tháng 1 năm 2001 trở đi, trừ trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 3 của Nghị quyết này, nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn, đều không được pháp luật công nhận là vợ chồng; nếu cóyêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng;nếu có yêu cầu về con và tài sản thì Tòa án áp dụng khoản 2 và khoản 3 Điều 17của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết”. Điều  17 Luật HN & GĐ quy định về hậu quả pháp lý của việc hủy kết hôn trái pháp luật như sau: “…3. Tài sản được giải quyết theo nguyên tắc tài sản riêng của ai thì vẫn thuộc quyền sở hữu của người đó; tài sản chung được chia theo thỏa thuận của các bên; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết, có tính đến công sức đóng góp của mỗi bên; ưu tiên bảo vệ quyền lợi chính đáng của phụ nữ và con”.

Một vài ý kiến về cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự

01:06:00 |
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (BLTTDS) dành một Chương (từ Điều 146 đến Điều 156) để quy định về trình tự cấp, tống đạt, thông báo (sau đây viết tắt là tống đạt) văn bản tố tụng. Đây được xem là bước tiến lớn về thủ tục tống đạt so với các văn bản quy định về tố tụng dân sự trước đây. Qua thời gian áp dụng trong thực tiễn, các quy định về tống đạt văn bản tố tụng đã phát huy giá trị, góp phần quan trọng vào việc đảm bảo giá trị pháp lý của các văn bản tố tụng và đặc biệt đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện cho thấy một số quy định về tống đạt văn bản tố tụng của BLTTDS đã bộc lộ một số vướng mắc, bất cập cần có sự hoàn thiện hoặc cần có văn bản hướng dẫn để phát huy giá trị pháp lý của thủ tục tố tụng này.
1. Đối với các phương thức tống đạt
Theo quy định tại Điều 129 BLTTDS về phương thức tống đạt văn bản tố tụng thì việc tống đạt được thực hiện bằng 03 phương thức (1) Tống đạt trực tiếp, qua bưu điện hoặc người thứ ba được uỷ quyền; (2) Niêm yết công khai và (3) Thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Giải quyết ly hôn với một bên mắc bệnh tâm thần

12:40:00 |

Trong thực tiễn cuộc sống nhiều cặp vợ chồng khi kết hôn sức khỏe đều bình thường nhưng trong thời gian tồn tại hôn nhân do bị ốm đau hoặc tai nạn dẫn đến bị bệnh tâm thần...

Hoặc bị một bệnh khác mà không làm chủ được hành vi của mình, đã có thời gian dài điều trị bệnh nhưng không khỏi. 
Từ nhu cầu thực tế của cuộc sống cần giải quyết ly hôn và việc yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn có thể xảy ra hai trường hợp: Một bên vợ (chồng) của người bị bệnh tâm thần yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Bên người bị bệnh tâm thần cần phải giải quyết ly hôn vì lúc này người bị bệnh tâm thần cuộc sống của họ phải nhờ vào người khác (mà một bên vợ hoặc chồng không có trách nhiệm) do đó họ cần được chia tài sản chung để đảm bảo cho cuộc sống của họ. 
Về căn cứ cho ly hôn được quy định tại Điều 89 Luật Hôn nhân và gia đình Tòa án căn cứ để giải quyết như sau: “Tòa án xem xét yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, thì Tòa án quyết định cho ly hôn”. Nhưng chúng ta biết rằng người bị bệnh tâm thần là người không có khả năng nhận thức, không làm chủ được hành vi của mình. Do đó khi có một bên có yêu cầu ly hôn thì có thể giải quyết ly hôn thông qua một trong các thủ tục sau: 
Thông qua người đại diện: Tại khoản 3 Điều 73 của Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) quy định: “...đối với việc ly hôn, đương sự không được uỷ quyền cho người khác thay mặt mình tham gia tố tụng”. Đối với người bị bệnh tâm thần họ không có khả năng nhận thức nên họ không biết gì về ly hôn, cũng không biết gì về uỷ quyền và họ cũng không thể thực hiện được việc uỷ quyền. Do đó không thể thực hiện được thủ tục đại diện để giải quyết việc ly hôn đối với người bị bệnh tâm thần.
Thông qua người giám hộ: Theo quy định tại khoản 2 Điều 58 của Bộ luật Dân sự (BLDS) thì: “Người được giám hộ bao gồm:… b, Người mất năng lực hành vi dân sự”. Người mất năng lực hành vi dân sự theo quy định tại khoản 1 Điều 22 BLDS: “Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc do bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở của tổ chức giám định”.
Mặt khác trong BLTTDS cũng như Luật Hôn nhân và gia đình không quy định Tòa án được giải quyết ly hôn đối với người bị bệnh tâm thần nhưng tại Điều 182 BLTTDS có quy định về những vụ án dân sự không tiến hành hòa giải được. Khoản 3 điều luật này quy định: “Đương sự là vợ hoặc chồng trong vụ án ly hôn là người mất năng lực hành vi dân sự”. Khoản 3 Điều 182 BLTTDS quy định về trường hợp không tiến hành hòa giải được, tức là việc ly hôn của người bị bệnh tâm thần được giải quyết theo thủ tục tố tụng của BLTTDS.
Như vậy khi giải quyết ly hôn với một người bị bệnh tâm thần thì được giải quyết theo thủ tục có người giám hộ sau khi người bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác không nhận thức làm chủ hành vi của mình được Tòa án quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự có hiệu lực pháp luật. 
Khi một người đã mất năng lực hành vi dân sự thì người giám hộ đương nhiên là người vợ hoặc chồng theo khoản 1 Điều 62 BLDS “Trong trường hợp vợ mất năng lực hành vi dân sự thì người chồng là người giám hộ; nếu chồng mất năng lực hành vị dân sự thì người vợ là người giám hộ”. Hoặc theo khoản 2 Điều 24 Luật Hôn nhân và gia đình quy định “Vợ chồng đại diện cho nhau khi một bên mất năng lực hành vi dân sự mà bên kia có đủ điều kiện làm người giám hộ hoặc khi một bên bị hạn chế năng lực hành vi dân sự mà bên kia được Tòa án chỉ định làm người đại diện theo pháp luật cho người đó”. Song nếu để vợ hoặc chồng người bệnh làm người giám hộ thì không đảm bảo công bằng vì quyền lợi đối lập nhau, lúc này người vợ hoặc chồng làm thủ tục xin ly hôn có hai tư cách: Vừa là nguyên đơn vừa là người giám hộ, đại diện cho người mất năng lực hành vi dân sự (bị đơn). Đây là trường hợp không được tồn tại trong một vụ án vì quyền lợi hai bên rõ ràng là đối lập nhau (khoản 1 Điều 75 BLTTDS). Mặt khác, việc cử người khác giám hộ chỉ được thực hiện khi không có người giám hộ đương nhiên (Điều 63 BLDS), ở đây chúng ta chưa nói đến vấn đề ly hôn là một quyền nhân thân, phải do chính họ thực hiện không thể chuyển giao cho người khác (Điều 24 BLDS).
Vậy ai sẽ đóng vai trò là người đại diện cho người bị mất năng lực hành vi dân sự trong trường hợp đặc biệt này? Theo chúng tôi, khi Tòa án đã thụ lý vụ án ly hôn theo yêu cầu của người vợ hoặc chồng với người mất năng lực hành vi dân sự thì căn cứ vào Điều 76 BLTTDS, Tòa án sẽ chỉ định người đại diện: “Trong khi tiến hành tố tụng dân sự, nếu có đương sự là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự mà không có người đại diện hoặc người đại diện theo pháp luật của họ thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 75 của bộ luật này thì Tòa án phải chỉ định người đại diện để tham gia tố tụng tại Tòa án”. Vấn đề là sau đó Tòa nên chỉ định người đại diện là những người có mối liên hệ thân thích với người bệnh để làm sao bảo vệ được tốt nhất quyền lợi hợp pháp cho người bệnh.
Ly hôn trong trường hợp người bị bệnh tâm thần là người khởi kiện: Vấn đề đặt ra ở đây người bị bệnh không phải là chấm dứt hôn nhân vì họ đã bị bệnh tâm thần nên không có khả năng nhận thức, không làm chủ được hành vi của mình nên họ không thể biết việc ly hôn là thế nào, cuộc sống của họ hoàn toàn lệ thuộc vào người khác nên việc giải quyết ly hôn là để được giải quyết phần tài sản chung của vợ chồng nhằm đáp ứng cuộc sống của họ (Vì trong thực tế có một số trường hợp khi một bên bị bệnh tâm thần thì phía bên vợ hoặc bên chồng bình thường không quan tâm, không có trách nhiệm gì hoặc đối xử không tốt với người chồng hoặc người vợ mất năng lực hành vi dân sự và có thể họ còn khai thác tài sản chung của vợ chồng cho những lợi ích riêng của riêng mình).
Việc giải quyết ly hôn của họ ở đây sẽ được thông qua người giám hộ, đại diện như trường hợp trên, người bị bệnh tâm thần là nguyên đơn do người đại diện thực hiện. 
Về chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định tại khoản 2 Điều 27 BLTTDS: “Tranh chấp về tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân”. Vậy người đại diện cho người mất năng lực hành vi dân sự có thể đại diện cho họ để khởi kiện chia tài sản chung theo thủ tục người đại diện, vì ở đây không giải quyết về hôn nhân nên không liên quan đến quyền nhân thân (mà họ không được chuyển giao), Tòa án chỉ giải quyết về việc chia tài sản chung, thực hiện thông qua người đại diện và để tránh xung đột, đối lập về quyền lợi thì Tòa án có thể chỉ định người đại diện theo quy định tại khoản 3 Điều 141 BLTTDS. Việc giải quyết vụ án về tranh chấp tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân được giải quyết theo thủ tục chung được quy định ở BLTTDS mà vẫn đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho người vợ hoặc người chồng bị mất năng lực hành vi dân sự.  
Trên đây là một số ý kiến xuất phát từ thực tiễn áp dụng các quy định của BLTTDS và các quy định liên quan trong việc giải quyết vụ việc ly hôn mà một bên mắc bệnh tâm thần và chúng tôi xin được chia sẻ với bạn đọc và các đồng nghiệp.

Trao đổi về vụ án có đương sự vắng mặt nơi cư trú

23:04:00 |
Hiện nay, trong các vụ án tranh chấp hợp đồng vay, mượn tài sản, thừa kế, ly hôn,.. trường hợp tại thời điểm người khởi kiện nộp đơn khởi kiện, các bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt ở địa phương trước đó xảy ra tương đối nhiều. Một số Tòa án đã thụ lý giải quyết đối với trường hợp này, nhưng có một số Toà án không đồng ý thụ lý vụ án, trả lại đơn khởi kiện theo quy định Điều 169 Bộ luật Tố tụng dân sự vì cho rằng người khởi kiện không cung cấp được địa chỉ của người bị kiện, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Trong một số trường hợp, khi đã thụ lý đơn khởi kiện có kèm giấy xác nhận chứng minh nơi cư trú của bị đơn hoặc người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan của chính quyền địa phương, nhưng trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán tiến hành xác minh lại thì được biết bị đơn hoặc người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án vắng mặt khỏi địa phương trước thời điểm Toà án thụ lý nên đã đình chỉ vụ án theo điểm i khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung (BLTTDS), căn cứ vào khoản 2 Điều 169 BLTTDS trả lại đơn khởi kiện cho đương sự với lý do người khởi kiện không cung cấp được địa chỉ mới của bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án có phù hợp quy định của pháp luật?

22:44:00 |
Ông N.V.T. và bà L.T.C đang xây nhà tại số 10, đường Nguyễn Hữu Cảnh, khóm A, phường L, thị xã T, tỉnh B (theo Giấy phép xây dựng số 322/2012/GPXD ngày 30/7/2012 do Ủy ban nhân dân thị xã T cấp) nhưng bị phần mái hiên, máng xối, rèm cửa của nhà ông T.H.A tại số 12, đường Nguyễn Hữu Cảnh (cạnh nhà ông T., bà C.) lấn sang phần đất thuộc quyền sử dụng của ông T., bà C. nên ảnh hưởng đến việc xây nhà của ông T., bà C. Mặc dù, đã được ông T., bà C. yêu cầu khắc phục nhiều lần nhưng ông A. không thực hiện. Phần đất mà ông T., bà C. được cấp phép xây dựng đã được Ủy ban nhân dân thị xã T. cấp quyền sử dụng cho ông T., bà C. vào năm 2006. Do đó, vào ngày 10/11/2012, ông T., bà C. khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân thị xã T buộc ông A phải cắt bớt phần máng xối, mái hiên, rèm cửa lấn sang phần đất thuộc quyền sử dụng của ông T., bà C.
Ông A. không chấp nhận yêu cầu của ông T., bà C. vì cho rằng giữa nhà của ông T., bà C. với nhà ông A có 01 con hẻm sử dụng chung với chiều ngang 0,6m, chiều dài chạy dọc theo phần đất thuộc quyền sử dụng của 02 nhà (mỗi nhà sử dụng chiều ngang 0,3m). Khi ông T., bà C. làm thủ cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 2012 đã xin cấp quyền sử dụng đối với phần con hẻm chung này. Nhà của ông A đã cất trước thời điểm ông T., bà C. được cấp quyền sử dụng và khi ông T., bà C. làm thủ tục cấp quyền sử dụng đất ông A. không biết, không ký tứ cận cho ông T., bà C. cho nên ông A. không chấp nhận yêu cầu kiện của ông T., bà C.
Trong quá trình giải quyết vụ án, do ông A. yêu cầu Tòa án hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân thị xã T cấp cho ông T., bà C. vào năm 2006 nên Tòa án đã ra Thông báo yêu cầu Ủy ban nhân dân thị xã T tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan theo quy định tại Điều 32a Bộ luật tố tụng dân sự.

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN NHẬP, TÁCH VỤ ÁN DÂN SỰ

17:04:00 |
Có thể thấy rằng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự phải nhằm đảm bảo cho việc giải quyết các vụ án một cách nhanh chóng, kịp thời, bảo vệ một cách tốt nhất quyền, lợi ích hợp pháp của các bên đương sự. Thực tiễn giải quyết các vụ án dân sự cho thấy một vụ án dân sự nảy sinh có thể có nhiều quan hệ pháp luật cần phải giải quyết, có nhiều đương sự tham gia tố tụng. Để có thể giải quyết nhanh chóng và đúng đắn các yêu cầu của đương sự, trong nhiều trường hợp đòi hỏi Toà án phải nhập các quan hệ pháp luật để giải quyết trong cùng một vụ án hoặc tách các quan hệ pháp luật để giải quyết trong các vụ án khác nhau. Tuy nhiên, việc xác định đúng đắn cơ sở của việc nhập, tách vụ án dân sự cũng như những trường hợp cần phải nhập, tách vụ án có một ý nghĩa hết sức quan trọng. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin trao đổi một số vấn đề sau đây:
1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc nhập, tách vụ án
Lý luận và thực tiễn về việc nhập, tách vụ án đã chỉ ra rằng việc nhập, tách vụ án không đúng có thể gây kéo dài thời gian giải quyết các yêu cầu của đương sự, không bảo vệ kịp thời quyền, lợi ích hợp pháp của họ hoặc không đảm bảo được sự công bằng trong việc bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của các bên trên thực tế. Do vậy, việc nhập, tách vụ án cũng như việc xây dựng các quy định về nhập, tách vụ án phải nhằm giải quyết nhanh chóng, đúng pháp luật, bảo vệ kịp thời quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự và đảm bảo được sự công bằng trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ.
Hiện nay việc nhập, tách vụ án đã được quy định trong Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011. Theo Điều 38 Bộ luật Tố tụng Dân sự thì Toà án có thể nhập hai hoặc nhiều vụ án mà Toà án đó đã thụ lý riêng biệt thành một vụ án để giải quyết nếu việc nhập và việc giải quyết trong cùng một vụ án bảo đảm đúng pháp luật. Toà án có thể tách một vụ án có các yêu cầu khác nhau thành hai hoặc nhiều vụ án nếu việc tách và việc giải quyết các vụ án được tách bảo đảm đúng pháp luật. Như vậy, Điều 38 Bộ luật Tố tụng Dân sự cũng chỉ định ra những nguyên tắc chung cho việc nhập nhiều vụ án mà Toà án đã thụ lý để giải quyết trong cùng một vụ án mà không đề cập đến việc nhập các quan hệ pháp luật tranh chấp hoặc nhiều yêu cầu của đương sự để giải quyết trong cùng một vụ án khi xem xét thụ lý các yêu cầu của đương sự. Do vậy, khi thụ lý vụ án Toà án cần vận dụng các quy định khác của Bộ luật Tố tụng Dân sự có liên quan đến vấn đề này để quyết định nhập các quan hệ pháp luật tranh chấp, các yêu cầu của đương sự để thụ lý giải quyết trong cùng một vụ án hay thụ lý làm nhiều vụ án riêng biệt để giải quyết.
Xét về lý luận và thực tiễn, việc nhập, tách vụ án phải được tiến hành trên những cơ sở sau đây:
Việc tách vụ án chỉ thực hiện trong trường hợp vụ án có nhiều quan hệ pháp luật có thể giải quyết một cách độc lập mà không ảnh hưởng tới việc giải quyết các quan hệ pháp luật khác. Việc tách vụ án phải đảm bảo việc giải quyết nhanh chóng và đúng pháp luật các yêu cầu của đương sự.
Việc nhập vụ án chỉ thực hiện trong trường hợp có nhiều quan hệ pháp luật có liên quan với nhau cần phải giải quyết và việc nhập các quan hệ pháp luật để giải quyết trong cùng một vụ án vẫn đảm bảo đúng pháp luật và không ảnh hưởng tới kết quả giải quyết các quan hệ pháp luật đó.
Ngoài ra, việc nhập các quan hệ pháp luật tranh chấp hoặc các yêu cầu của đương sự khi thụ lý để giải quyết trong cùng một vụ án hoặc tách các yêu cầu, các quan hệ pháp luật khác nhau để thụ lý giải quyết trong nhiều vụ án khác nhau cần phải căn cứ vào quy định tại Điều 163 và Điều 176 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Theo các quy định này, cá nhân, cơ quan, tổ chức có thể khởi kiện một hoặc nhiều cá nhân, cơ quan, tổ chức khác về một quan hệ pháp luật hoặc nhiều quan hệ pháp luật có liên quan với nhau để giải quyết trong cùng một vụ án. Nhiều cá nhân, cơ quan, tổ chức có thể cùng khởi kiện một cá nhân, một cơ quan, một tổ chức khác về một quan hệ pháp luật hoặc nhiều quan hệ pháp luật có liên quan với nhau để giải quyết trong cùng một vụ án.
Yêu cầu phản tố của bị đơn đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập được chấp nhận khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
 -  Yêu cầu phản tố để bù trừ nghĩa vụ với yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập;
 - Yêu cầu phản tố được chấp nhận dẫn đến loại trừ việc chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập;
 - Giữ yêu cầu phản tố và yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có sự liên quan với nhau và nếu được giải quyết trong cùng một vụ án thì làm cho việc giải quyết vụ án được chính xác và nhanh hơn.
Tuy nhiên, cũng cần phải nhìn nhận rằng việc tách, nhập vụ án phải đảm bảo được việc giải quyết nhanh chóng, đúng đắn vụ án, bảo vệ kịp thời quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự. Do vậy, việc nhập, tách vụ án cũng như việc xây dựng các quy định về việc nhập, tách vụ án phải được đặt trong mối liên hệ chặt chẽ với các quy định của pháp luật về thi hành án dân sự, đặc biệt là các quy định về thứ tự ưu tiên thanh toán tài sản thi hành án.
Trong thực tiễn, tuỳ thuộc vào tính phức tạp của vụ án hoặc vì các lý do khác nhau mà thời hạn giải quyết các vụ án trên thực tế là khác nhau. Do vậy, trong nhiều trường hợp, nếu các yêu cầu của đương sự không được giải quyết trong cùng một vụ án có thể dẫn tới tình trạng không đảm bảo sự công bằng giữa những người cùng khởi kiện. Cụ thể là có những người khởi kiện, sau khi có bản án, quyết định của Toà án đã nhận được tài sản thi hành án từ người phải thi hành án và ngược lại cũng có những người khởi kiện chỉ được bảo vệ về mặt pháp lý bằng một bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Toà án mà không được đảm bảo về mặt thực tế vì bản án, quyết định không được thi hành trên thực tế, tài sản của người phải thi hành án đã được thi hành cho người được thi hành án có bản án, quyết định trước đó. Thực tế này đòi hỏi các cơ quan có thẩm quyền phải có một sự nghiên cứu tổng thể các quy định về thủ tục tố tụng trong việc tách, nhập vụ án và các quy định về thi hành án để có những văn bản hướng dẫn cho phù hợp. Hiện nay, các quy định về nhập, tách vụ án dân sự trong Bộ luật Tố tụng Dân sự là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc nhập, tách vụ án. Trên cơ sở các quy định mang tính chất định hướng này, các cơ quan có thẩm quyền cần xây dựng những văn bản hướng dẫn áp dụng cho những trường hợp cụ thể nảy sinh từ thực tiễn để đảm bảo việc áp dụng thống nhất trong toàn quốc về nhập, tách vụ án dân sự, tránh việc hiểu và vận dụng khác nhau gây thiệt hại cho quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự.

Một vài ý kiến về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án khi giải quyết vụ án dân sự

01:29:00 |

Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, Tòa án mà cụ thể là Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án phải dựa vào các tài liệu, chứng cứ do các bên đương sự xuất trình cũng như được Tòa án thu thập để làm căn cứ xác định chấp nhận hay phản bác ý kiến, yêu cầu của đương sự. Chính vì vậy, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 (viết tắt là BLTTDS) đã quy định khá chi tiết, đầy đủ các hoạt động thu thập chứng cứ cũng như quy định chặt chẽ trình tự, thủ tục tiến hành từng hoạt động. Một số quy định về thu thập chứng cứ của Tòa án được sửa đổi, bổ sung để hoàn thiện khi Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS năm 2011 (sau đây viết tắt là Luật SĐBS). Tuy nhiên, trong thực tiễn giải quyết các vụ án dân sự, ngoài việc sử dụng các chứng cứ được thu thập bằng các biện phạp được quy định tại Điều 85 BLTTDS đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật SĐBS thì Thẩm phán còn sử dụng các chứng cứ được thu thập từ các hoạt động khác để giải quyết vụ án nhưng chưa được BLTTDS quy định rõ các hoạt động đó có phải là hoạt động thu thập chứng cứ hay không? Trong trường hợp một Thẩm phán thuộc trường hợp phải từ chối, thay đổi đã tiến hành một số hoặc toàn bộ hoạt động thu thập chứng cứ thì Thẩm phán thay thế có phải tiến hành lại các hoạt động thu thập chứng cứ hay không? Để làm rõ các vướng mắc này, trong phạm vi bài viết này, tác giải lần lượt làm rõ các nội dung sau:

Một số vấn đề về việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định tại Chương VIII của Bộ luật tố tụng dân sự trên thực tiễn

23:42:00 |

Hiện nay, về trình tự, thủ tục áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ các biện pháp khẩn cấp tạm thời (sau đây viết tắt là BPKCTT) được quy định tại Chương VIII từ Điều 99 đến Điều 126 của Bộ luật tố tụng dân sự (sau đây viết tắt là BLTTDS) và được hướng dẫn chi tiết tại Nghị quyết số 02/2005/NQ-HĐTP ngày 27/4/2005 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao. Tuy nhiên, trên thực tiễn, việc áp dụng các quy định nêu trên vẫn chưa thống nhất, còn có nhiều cách hiểu và áp dụng khác nhau, cần có một quy chuẩn hoặc hướng dẫn cụ thể của các cơ quan có thẩm quyền.

Những vấn đề sửa đổi, bổ sung về trình tự, thủ tục xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm và giải quyết việc dân sự

01:01:00 |

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS đã sửa đổi bổ sung 17 chương, trong đó sửa 50 điều, bổ sung 12 điều (bổ sung 1 chương với 2 điều) và bãi bỏ 8 điều. Riêng phần xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm và giải quyết việc dân sự đã sửa đổi 11 chương (trong đó sửa 30 điều, bổ sung 8 điều và bãi bỏ 8 điều), bổ sung 1 chương 3 điều.
1. Chương XII - Khởi kiện và thụ lý vụ án
Sửa đổi, bổ sung một số Điều 164, 168, 170, 176 và 177 như sau:
1.1. Điều 164 về hình thức, nội dung đơn khởi kiện
Theo Điều 34 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự quy định:
Người khởi kiện phải làm đơn ghi rõ:
- Họ tên, địa chỉ của mình; của bị đơn, của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
- Nội dung sự việc, yêu cầu của mình
- Những tài liệu, lý lẽ chứng minh cho những yêu cầu đó.
Theo khoản 2 điều 164 BLTTDS năm 2004 quy định hình thức, nội dung đơn khởi kiện
a) Ngày, tháng, năm làm đơn khởi kiện;
b) Tên Toà án nhận đơn khởi kiện;
c) Tên, địa chỉ của người khởi kiện;
d) Tên, địa chỉ của người có quyền và lợi ích được bảo vệ, nếu có;
đ) Tên, địa chỉ của người bị kiện;
e) Tên, địa chỉ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, nếu có;
g) Những vấn đề cụ thể yêu cầu Toà án giải quyết đối với bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
h) Họ, tên, địa chỉ của người làm chứng, nếu có;     
i) Tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện là có căn cứ và hợp pháp;
k) Các thông tin khác mà người khởi kiện xét thấy cần thiết cho việc giải quyết vụ án;
l) Người khởi kiện là cá nhân phải ký tên hoặc điểm chỉ; nếu cơ quan, tổ chức khởi kiện thì đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó phải ký tên và đóng dấu vào phần cuối đơn.
Quy định như thế, thì thể hiện điểm i và điểm k không rõ, vì thực chất điểm i là tài liệu kèm theo đơn khởi kiện, còn điểm g đã bao hàm cả điểm k trong trường hợp người khởi kiện là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự; người không biết chữ, không nhìn thấy được, hoặc không thể tự mình ký tên hoặc điểm chỉ được thì đơn khởi kiện của họ giải quyết như thế nào?
Vì vậy điều 164 sửa lại đã bỏ điểm k còn điểm i và điểm l chuyển thành khoản 3 đồng thời bổ sung nói rõ về đơn khởi kiện của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự và người có nhược điểm về thể chất hoặc tinh thần thì phải do ai ký tên... Nên Điều 164 đã được sửa đổi, bổ sung về vấn đề này cho rõ ràng, dễ hiểu như sau:
- Người khởi kiện là cá nhân phải ký tên hoặc điểm chỉ;
- Người khởi kiện là cơ quan, tổ chức thì đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó phải ký tên và đóng dấu vào phần cuối đơn;
- Trường hợp khởi kiện để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự thì đơn khởi kiện do người đại diện theo pháp luật của những người này ký tên hoặc điểm chỉ;
- Trường hợp người khởi kiện không biết chữ, không nhìn được, không thể tự mình ký tên hoặc điểm chỉ thì phải:
+ Có người làm chứng và người này phải ký xác nhận trước mặt người có thẩm quyền chứng thực của Uỷ ban nhân dân cấp xã.
+ Người có thẩm quyền chứng thực của Uỷ ban nhân dân cấp xã chứng nhận trước mặt người khởi kiện và người làm chứng. Cụm từ “trước mặt” được hiểu là “trước sự có mặt của...”, tránh tình trạng hiểu một cách máy móc.
* Kèm theo đơn khởi kiện phải có các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của người khởi kiện là có căn cứ và hợp pháp.

Chuyên đề 5: Một số vấn đề về tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự

00:49:00 |
I. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ TƯƠNG TRỢ TƯ PHÁP TRONG LĨNH VỰC DÂN SỰ
1. Về thực trạng pháp luật về tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự
Luật Tương trợ tư pháp đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XII, kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 21 tháng 11 năm 2007 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01-7-2008. Trước khi Luật Tương trợ tư pháp có hiệu lực thi hành thì trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự Toà án Việt Nam thực hiện tương trợ tư pháp ra nước ngoài hoặc thực hiện uỷ thác tư pháp của Toà án nước ngoài, cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài vẫn áp dụng các văn bản quy phạm hướng dẫn trước đây về tương trợ tư pháp về dân sự như: Thông tư liên bộ số 139-TT/LB ngày 12-3-1984 của Bộ Tư pháp, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Toà án nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ, Bộ Ngoại giao về việc thi hành hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý về các vấn đề dân sự, gia đình và hình sự đã ký giữa nước ta với Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa; Thông tư số 160/HTQT của Bộ Tư pháp ngày 25-3-1993 của Bộ Tư pháp về việc thực hiện uỷ thác tư pháp của Toà án nước ngoài; Bộ luật tố tụng dân sự và các Hiệp định tương trợ tư pháp về dân sự giữa Việt Nam với một số nước. Tuy nhiên, các văn bản hướng dẫn trước đây đã không còn phù hợp; trong khi đó các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, các Hiệp định tương trợ tư pháp về dân sự giữa Việt Nam với một số nước mới chỉ mang tính chất nguyên tắc mà chưa có hướng dẫn cụ thể, chưa đáp ứng được yêu cầu tương trợ tư pháp trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự.

nhãn totunghinhsu

THÔNG TIN TỐ TỤNG HÌNH SỰ

banner

ĐÀO TẠO NGHIỆP VỤ XÉT XỬ TẠI TP. HỒ CHÍ MINH

VĂN BẢN MỚI BAN HÀNH

VĂN BẢN MỚI

TIN PHÁP ĐÌNH


THONG TIN TRANG NGHIỆP VỤ