Đang tải dữ liệu...
Thẩm Phán 13 Lớp B (thamphan13) /* Menu Horizontal top*/

Tạo banner chạy dọc hai bên

hinhlop1

hinhlop


Download Hình

Tiện ích bài đăng có ảnh thumbnail chạy ngang

Kỹ năng viết bản án hình sự phúc phẩm

19:05:00 |
Bản án phúc thẩm hình sự được quy định tại Điều 248 Bộ luật tố tụng hình sự và được hướng dẫn viết theo mẫu bản án hình sự phúc thẩm (mẫu số 2đ) ban hành kèm theo Nghị quyết số 05/2005/NQ-HĐTP ngày 08 tháng 12 năm 2005 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Kháng cáo, kháng nghị bản án sơ thẩm là cơ sở của trình tự phúc thẩm và đó cũng là căn cứ để bắt buộc phải thực hiện thủ tục tố tụng từ Tòa án cấp sơ thẩm đến Tòa án cấp phúc thẩm. Khi bản án hình sự sơ thẩm có kháng cáo, bị kháng cáo hoặc bị kháng nghị thì theo quy định của pháp luật, Tòa án cấp sơ thẩm phải thực hiện việc lập và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp phúc thẩm và ra thông báo về việc kháng cáo, kháng nghị cho những người tham gia tố tụng hoặc Viện kiểm sát cùng cấp biết (trong trường hợp có kháng cáo). Đối với trường hợp kháng cáo quá hạn, tuy chưa phải chuyển hồ sơ vụ án, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm vẫn phải thực hiện một số thủ tục để Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết về kháng cáo quá hạn. Tòa án thực hiện chế độ xét xử theo hai cấp nhằm đảm bảo việc giải quyết, xét xử vụ án chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị cáo, những người tham gia tố tụng.
Tòa án cấp phúc thẩm có nhiệm vụ kiểm tra tính hợp pháp và có căn cứ của bản án sơ thẩm hoặc quyết định sơ thẩm có kháng cáo, kháng nghị. Theo quy định tại Điều 241 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) thì “Tòa án cấp phúc thẩm xem xét nội dung kháng cáo, kháng nghị. Nếu xét thấy cần thiết thì Tòa án cấp phúc thẩm có thể xem xét các phần khác không bị kháng cáo, kháng nghị của bản án”. Do vậy, phạm vi xét xử phúc thẩm không chỉ bó hẹp trong việc xem xét, giải quyết nội dung của kháng cáo, kháng nghị mà còn có thể xem xét lại toàn bộ bản án sơ thẩm.
Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án, tức là được thi hành án ngay. Chính vì vậy, việc ra bản án phúc thẩm có ý nghĩa rất quan trọng, không chỉ đối với việc giải quyết nội dung vụ án mà còn là căn cứ để đánh giá chất lượng giải quyết, xét xử của Tòa án cấp sơ thẩm nói chung và trực tiếp đối với Thẩm phán nói riêng. Do vậy, bản án hình sự phúc thẩm phải đảm bảo tính thuyết phục không chỉ đối với các đương sự mà cả với Tòa án cấp sơ thẩm. Trong thực tiễn xét xử, không ít các bản án phúc thẩm hình sự không được Tòa án cấp sơ thẩm đồng tình, thậm chí còn có bản án phúc thẩm bị phản ứng gay gắt bởi việc sửa, hủy án sơ thẩm thiếu căn cứ pháp luật hoặc lập luận thiếu tính thuyết phục.

Kỹ năng viết bản án hình sự sơ thẩm

18:55:00 |
Bản án hình sự sơ thẩm được quy định tại Điều 224 của Bộ luật tố tụng hình sự (sau đây viết tắt là BLTTHS). Tòa án ra bản án nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Vì vậy, bản án hình sự sơ thẩm là văn bản tố tụng đánh dấu sự kết thúc của quá trình điều tra, truy tố và xét xử, khẳng định bị cáo có phạm tội hay không phạm tội và nếu phạm tội thì phạm tội gì, theo điểm, khoản, điều nào của Bộ luật hình sự (BLHS), các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo và Hội đồng xét xử về giải quyết vụ án. Nếu bị cáo không phạm tội thì bản án phải chỉ rõ những căn cứ xác định bị cáo không phạm tội, đồng thời quyết định việc khôi phục danh dự, quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo.
Như vậy, Hội đồng xét xử là chủ thể duy nhất có quyền ban hành văn bản pháp lý quan trọng này. Xét xử vụ án hình sự là sự thể hiện rõ rệt quyền lực Nhà nước và là một biện pháp hữu hiệu để đấu tranh phòng, chống tội phạm.
Một bản án được lập luận chặt chẽ, logic trên cơ sở phân tích, chứng minh đầy đủ, khách quan, toàn diện những chứng cứ đã được thẩm tra, làm rõ tại phiên tòa và các quyết định của bản án chính xác, đúng pháp luật, thấu tình, đạt lý sẽ có sức thuyết phục mạnh mẽ và đề cao tính giáo dục, phòng ngừa. Bản án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật chẳng những làm cho người phạm tội " tâm phục, quy định của pháp luật, chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước, từ đó nâng cao ý thức pháp luật và đặt niềm tin vào công lý. Vai trò, vị trí của Tòa án được nâng lên khi nhân dân tin tưởng vào các bản án của Tòa án.
Chính vì ý nghĩa và tầm quan trọng nêu trên của bản án hình sự sơ thẩm nên Hội đồng thẩm phán TAND tối cao đã ban hành Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP ngày 05/11/2004 hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ ba " xét xử sơ thẩm" của BLTTHS năm 2003, trong đó tại Điều 2 mục IV đã hướng dẫn về Điều 224 của BLTTHS. Đồng thời, Hội đồng thẩm phán (HĐTP) cũng đã ban hành một số mẫu văn bản tố tụng kèm theo Nghị quyết, trong đó có mẫu bản án hình sự sơ thẩm. Đây là căn cứ pháp lý để các Thẩm phán áp dụng khi viết bản án hình sự sơ thẩm. Tuy nhiên, đây chỉ là mẫu về bố cục, đáp ứng các quy định tại các Điều 185,224 và 307 của BLTTHS năm 2003. Vấn đề quan trọng hơn là việc trình bày các nội dung đó như thế nào để bản án đáp ứng được các yêu cầu cơ bản là bản án phải chính xác, có sự thuyết phục; phải có căn cứ và phải hợp pháp lại thuộc về kỹ năng, trình độ viết của Thẩm phán.

Một vài ý kiến trao đổi về tình tiết giảm nhẹ “phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn” được quy định tại điểm g khoản 1 điều 46 bộ luật hình sự

22:57:00 |
Tình tiết giảm nhẹ (TTGN) trách nhiệm hình sự là tình tiết của vụ án hình sự có ý nghĩa làm giảm mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, phản ánh khả năng cải tạo tốt hoặc hoàn cảnh đặc biệt của người phạm tội đáng được khoan hồng. Theo quy định tại Điều 45 Bộ luật Hình sự năm 1999 (BLHS) thì TTGN trách nhiệm hình sự là một trong những căn cứ mà Tòa án phải xem xét khi quyết định hình phạt. Các TTGN trách nhiệm hình sự được quy định chi tiết, cụ thể tại Điều 46 BLHS. Một số TTGN trách nhiệm hình sự được các văn bản dưới luật hướng dẫn. Tuy nhiên, đối với các tình tiết chưa có sự hướng dẫn cụ thể thì trong thực tiễn còn có nhiều cách hiểu, vận dụng khác nhau, trong đó có TTGN “Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn” tại điểm g khoản 1 Điều 46 BLHS. Thực tiễn xét xử cho thấy việc áp dụng tình tiết này có nhiều quan điểm khác nhau không chỉ ở từng vụ án cụ thể, mà hướng dẫn áp dụng (không phải là văn bản quy phạm pháp luật) của từng ngành tư pháp cũng có những nhìn nhận khác nhau[1].
Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin nên một số ý kiến về TTGN được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 46 BLHS trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử.

VẤN ĐỀ NGƯỜI BỊ HẠI RÚT YÊU CẦU KHỞI TỐ VỤ ÁN TẠI PHIÊN TOÀ TRONG MỘT SỐ VỤ ÁN ĐƯỢC KHỞI TỐ THEO YÊU CẦU CỦA NGƯỜI BỊ HẠI

14:56:00 |
Khoản 2 Điều 105 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2003 quy định: “Trong trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu trước ngày mở phiên toà sơ thẩm thì vụ án phải được đình chỉ”. Trên thực tế quy định này đã được các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng và thực hiện nghiêm chỉnh, vừa tiết kiệm được chi phí của ngân sách Nhà nước, vừa đảm bảo được quyền lợi cho người bị hại, đồng thời góp phần tích cực vào việc tôn trọng thoả thuận của các cá nhân, xoá đi mặc cảm, tạo dựng tình cảm đoàn kết gắn bó trong cộng đồng dân cư, giữ gìn được mối quan hệ tình làng nghĩa xóm, ổn định trật tự trị an – an toàn xã hội.
Trong bài viết này chúng tôi xin đề cập đến vấn đề hiện còn có nhiều quan điểm khác nhau do nhận thức khác nhau, đó là trường hợp : Người bị hại rút yêu cầu khởi tố tại phiên toà sơ thẩm trong một số vụ án được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại; Và trường hợp người bị hại rút yêu cầu khởi tố trong vụ án có nhiều bị can hoặc bị cáo.
A.Trường hợp vụ án chỉ có một bị cáo
Qua việc trao đổi, nghiên cứu, tìm hiểu chúng tôi nhận thấy hiện nay khi có sự kiện người bị hại rút yêu cầu tại phiên toà sơ thẩm thì tuỳ theo nhận thức của Thẩm phán, của các thành viên Hội đồng xét xử sẽ dẫn đến nhiều quan điểm và cách giải quyết, xử lý khác nhau:
Quan điểm thứ nhất cho rằng: Khi người bị hại rút yêu cầu khởi tố tại phiên toà thì Hội đồng xét xử(sau đây viết tắt là HĐXX) cần phải yêu cầu người bị hại trình bày lý do của việc rút yêu cầu đó và tiếp tục xét xử bình thường, đến phần nghị án HĐXX đi vào phòng nghị án để thảo luận, sau đó HĐXX ra tuyên bố hoãn phiên toà, để bị hại làm đơn rút yêu cầu khởi tố gửi cho toà, với lý do HĐXX không thể khẳng định chắc chắn được việc bị hại rút yêu cầu khởi tố là có tự nguyện hay không? (có trái với ý muốn không, hoặc có bị ép buộc không). Khi người bị hại về làm đơn gửi đến toà thì lúc này được xem là trường hợp bị hại rút yêu cầu khởi tố trước ngày mở phiên toà, vì vậy vụ án phải được đình chỉ.
Quan điểm thứ hai cho rằng: Tại phiên toà bị hại rút yêu cầu khởi tố thì HĐXX hoàn toàn có thể xét hỏi đối với bị hại để làm rõ việc bị hại rút yêu cầu như vậy là có tự nguyện hay không mà không cần phải hoãn phiên toà như quan điểm thứ nhất. Qua việc xét hỏi nếu thấy người bị hại rút yêu cầu là do bị ép buộc thì HĐXX tiếp tục xét xử theo thủ tục chung. Còn nếu thấy rằng người bị hại rút yêu cầu khởi tố đúng là hoàn toàn tự nguyện thì đến phần nghị án, HĐXX thảo luận và căn cứ khoản 2 Điều 199 BLTTHS ra Quyết định đình chỉ vụ án, ở phần tuyên án chủ toạ sẽ công bố quyết định này.

Tòa án xử nhẹ không đúng, xử nặng không được do VKS trước sau bảo lưu quan điểm truy tố bị cáo theo khoản 2 nhưng theo tòa phải xử bị cáo ở khoản 1

16:16:00 |

Oái oăm là để xử ở khoản 1 thì toàn bộ hồ sơ phải làm lại với sự tham gia chứng kiến của luật sư. VKS không làm lại hồ sơ thì làm sao tòa xử?
Cãi nhau, hung hăng đâm xe tải vào nạn nhân
Tối 8-8-2012, sau khi ăn nhậu xong, Nguyễn Bình Tuy lái ô tô tải loại nhỏ đi về. Trên đường đi, thấy một người (chưa rõ lai lịch) chạy xe máy đi cùng chiều muốn vượt lên xe mình, Tuy đã ép không cho vượt.
Lúc này, ông Huỳnh Văn Bạc cũng đang chạy xe máy cùng chiều, chứng kiến cảnh Tuy ép xe người kia nên gai mắt. Sau đó khi Tuy dừng xe chờ đèn xanh tại chốt giao thông ngã ba Lê Hồng Phong - Vân Đồn (TP Nha Trang) thì người điều khiển chiếc xe máy bị ép và ông Bạc đã chửi, đòi đánh Tuy.
Đến ngã tư tiếp theo, ông Bạc và Tuy tiếp tục cãi vã. Mọi người xung quanh can ngăn. Ông Bạc chạy xe máy về hướng Mả Vọng, Tuy lái ô tô tải theo sau. Còn tức tối nên Tuy nảy sinh ý định tông thẳng vào xe ông Bạc. Nghĩ là làm, Tuy lái xe tải lấn vào làn xe máy rồi tăng ga đâm vào xe của ông Bạc làm nạn nhân té xuống và tử vong sau đó.
Gây tai nạn xong, Tuy lái xe bỏ chạy nhưng bị người đi đường đuổi theo bắt giữ giao công an. Qua kiểm tra, nồng độ cồn trong hơi thở của Tuy là 1.072 mg/l. Tại cơ quan điều tra, Tuy đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
VKS giữ nguyên quan điểm, tòa lúng túng
Sau khi có kết luận điều tra, VKS tỉnh Khánh Hòa đã truy tố Tuy về tội giết người theo khoản 2 Điều 93 BLHS (khung hình phạt từ bảy năm tù đến 15 năm tù) và chuyển hồ sơ sang TAND tỉnh để xét xử.
Rắc rối bắt đầu nảy sinh. Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án, TAND tỉnh Khánh Hòa cho rằng hành vi giết người của Tuy có tính chất côn đồ. Đây là dấu hiệu định khung tăng nặng được quy định tại điểm n khoản 1 Điều 93 BLHS (khung hình phạt từ 12 năm tù đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình).

Những bất cập trong quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về truy nã bị can, bị cáo và một số vướng mắc trong thực tiễn áp dụng

04:35:00 |

Truy nã bị can, bị cáo là hoạt động truy tìm, bắt giữ người bị khởi tố về hình sự hoặc người đã bị tòa án có quyết định đưa ra xét xử bỏ trốn hoặc không biết đang ở đâu, để các cơ quan tố tụng xử lí theo pháp luật. Hoạt động này đã được Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) quy định bởi một số điều luật, mục đích nhằm giải quyết triệt để tình trạng bị can, bị cáo sống ngoài vòng pháp luật, không được đưa ra xử lí bằng quyết định của cơ quan tố tụng (đình chỉ) hoặc không được đưa ra toà án để xét xử bằng bản án có hiệu lực pháp luật. Tình trạng bị can, bị cáo là người chưa thành niên tìm mọi cách trốn tránh việc xử lí của pháp luật hoặc cơ quan tố tụng không biết họ đang ở đâu ngoài việc gây khó khăn cho điều tra, truy tố, xét xử còn có những hậu quả khác. Do họ là những người chưa phát triển đầy đủ về trí lực, thể lực, tinh thần nên khi sống trong môi trường “ngoài vòng pháp luật”, càng dễ bị tiêm nhiễm những thói hư tật xấu, dễ tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, việc truy nã bị can, bị cáo là người chưa thành niên cũng là hoạt động cần thiết, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng ngừa tội phạm ở những đối tượng đặc biệt này.
Khi đi sâu tìm hiểu những quy định của BLTTHS về truy nã bị can, bị cáo chúng tôi thấy có những vấn đề bất cập, dẫn đến vướng mắc cho hoạt động thực tiễn. Cụ thể có những vướng mắc, bất cập như sau:

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 và những kiến nghị sửa đổi, bổ sung

20:21:00 |
kiểm nghiệm và thực tiễn xét xử, việc thực hiện Bộ luật tố tụng hình sự (viết tắt là BLTTHS) năm 2003, chúng tôi thấy còn những tồn tại, hạn chế, vướng mắc, bất cập. Đề nghị ban soạn thảo BLTTHS nghiên cứu để trình cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung một số điểm sau:
Một là: Tại Điều 44 BLTTHS về việc thay đổi Điều tra viên có ghi: “Phải từ chối hoặc bị thay đổi nếu đã tiến hành tố tụng vụ án đó với tư cách là Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân hoặc Thư ký Toà án”. Điều 45 BLTTHS, việc thay đổi Kiểm sát viên cũng quy định tương tự như vậy. Trên thực tế, rất ít khả năng và hầu như chưa xảy ra; vì một con người trong thời hiệu tố tụng (dù là tối đa) của một vụ án, không thể chuyển công tác ở những cơ quan khác nhau mà lại được đề bạt ngay chức sắc. Và trường hợp xảy ra thật thì sẽ vận dụng theo khoản 3 Điều 42 BLTTHS, cũng có thể, vì tương tự (Nếu không vô tư!). Do vậy, đề nghị bỏ các chế định trên trong Điều 44 và 45 BLTTHS.

Vấn đề có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật; Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong khi xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

23:25:00 |
1. Có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật.
Đây cũng là căn cứ kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, chỉ khác ở chỗ bản án của Toà án có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật  là bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật, còn kháng nghị giám đốc thẩm là bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật và bản án phúc thẩm hoặc quyết định giám đốc thẩm.
Sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật, trước hết là những sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng Bộ luật hình sự, kế đó là những sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật nói chung, mà pháp luật ở đây là pháp luật có liên quan đến việc áp dụng Bộ luật hình sự ( hỗ trợ cho việc áp dụng Bộ luật hình sự)
Việc áp dụng Bộ luật hình sự của Toà án cấp sơ thẩm phải đảm bảo phương châm kết án đúng người, đúng tội, không làm oan người ngay, không bỏ lọt người phạm tội. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án Toà án cấp sơ thẩm có những sai lầm nghiêm trọng dẫn đến bản án hoặc quyết định đối với bị cáo không nghiêm minh, không có tác dụng giáo dục và phòng ngừa, thậm chí có trường hợp làm oan người vô tội hoặc bỏ lọt người phạm tội hoặc quyết định đối với người tham gia tố tụng không đúng pháp luật, xâm phạm nghiêm trọng quyền và lợi ích hợp pháp của họ.

Thẩm quyền và phạm vi quyết định của Toà án cấp phúc thẩm

23:04:00 |
Theo quy định tại Điều 248 Bộ luật tố tụng hình sự, thì Hội đồng xét xử phúc thẩm có quyền quyết định:
- Không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị và giữ nguyên bản án sơ thẩm;
- Sửa bản án sơ thẩm;
- Huỷ bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án để điều tra lại hoặc xét xử lại;
- Huỷ bán án sơ thẩm và đình chỉ vụ án.
Trong các quyết định trên, có quyết định theo hướng có lợi cho bị cáo và những người tham gia tố tụng nhưng cũng có quyết định theo hướng không có lợi cho bị cáo và những người tham gia tố tụng.
Đối với các quyết định theo hướng có lợi cho bị cáo và những người tham gia tố tụng dù có kháng nghị phúc thẩm theo hướng đó hay không thì Toà án cấp phúc thẩm vẫn có thẩm quyền quyết định khi xét xử phúc thẩm, nếu như quyết định đó không trái với pháp luật. Tuy nhiên, đối với các quyết định theo hướng không có lợi cho bị cáo và những người tham gia tố tụng thì Toà án cấp phúc thẩm chỉ có thẩm quyền quyết định trong một số trường hợp mặc dù có kháng nghị theo hướng đó.
Theo quy định tại khoản 3 Điều 249 Bộ luật tố tụng hình sự thì, trong trường hợp Viện kiểm sát kháng nghị thì Toà án cấp phúc thẩm có thể tăng hình phạt, áp dụng điều khoản Bộ luật hình sự về tội nặng hơn; tăng mức bồi thường thiệt hại.

Xúi giục người chưa thành niên phạm tội là một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của người phạm tội được quy định tại điểm n khoản 1 Điều 48 BLHS

15:23:00 |

Tuy nhiên, có một vấn đề mà cho đến nay vẫn chưa có văn bản hướng dẫn chính thức của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao. Đó là cơ quan tố tụng có được áp dụng tình tiết tăng nặng này đối với người chưa thành niên hay không.

Chẳng hạn, A mới 14 tuổi ba tháng, có mâu thuẫn với một thiếu niên khác nên đã xúi giục B (dưới 16 tuổi) đi đâm nạn nhân để trả thù giùm mình. B nghe lời A nên vác dao tìm đâm nạn nhân tử vong. Sau đó, A và B cùng bị khởi tố, truy tố, xét xử về tội giết người. Vậy cơ quan tố tụng có được áp dụng tình tiết tăng nặng là “xúi giục người chưa thành niên phạm tội” đối với A hay không?

Về vấn đề này, một số thẩm phán cho rằng người có hành vi xúi giục người chưa thành niên phạm tội bao gồm cả người đã thành niên và chưa thành niên. Bởi lẽ trong cả BLHS, không hề có một dòng quy định nào loại trừ trách nhiệm của người chưa thành niên với tình tiết tăng nặng “xúi giục người chưa thành niên phạm tội”. Những người theo quan điểm này còn dẫn chứng: Trước khi có BLHS năm 1999, TAND Tối cao đã từng có công văn hướng dẫn nghiệp vụ xét xử của các tòa cấp dưới theo quan điểm này.

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ DÂN SỰ TRONG VỤ ÁN HÌNH SỰ

00:30:00 |
Cơ sở pháp lý để thực hiện vấn đề này là Bộ luật tố tụng hình sự. Điều 28 Bộ luật tố tụng hình sự quy định giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự như sau: Việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự được tiến hành cùng với việc giải quyết vụ án hình sự.
                                               
 Trong trường hợp vụ án hình sự phải giải quyết vấn đề bồi thường, bồi hoàn mà chưa có điều kiện chứng minh và không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án hình sự thì có thể tách ra để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự. Đây là điều luật mới, được bổ sung vào Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003.
Điều 42 Bộ luật hình sự quy định: Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; buộc công khai xin lỗi.
1.Người phạm tội phải trả lại tài sản đã chiếm đoạt cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, phải sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại vật chất đã được xác định do hành vi phạm tội gây ra.
2.Trong trường hợp phạm tội gây thiệt hại về tinh thần , Tòa án buộc người phạm tội phải bồi thường về vật chất, công khai xin lỗi người bị hại.
Ngoài ra khi giải quyết vụ án hình sự có vấn đề bồi thường, Tòa án còn phải áp dụng các quy định của Bộ luật dân sự để quyết định.

Viện Kiểm Sát phải chỉ đạo hoạt động điều tra?

12:24:00 |
VKS phải chỉ đạo hoạt động điều tra?
Bàn về vai trò, nhiệm vụ của VKS trong cải cách tư pháp, một vấn đề được nhiều người quan tâm là mối quan hệ giữa cơ quan điều tra và VKS là quan hệ phối hợp hay phục tùng lẫn nhau?

Trong hội thảo mô hình tố tụng hình sự Việt Nam theo yêu cầu cải cách tư pháp do Ủy ban Tư pháp của Quốc hội đang tổ chức tại Huế, VKSND Tối cao cho rằng đó là quan hệ phối hợp nhưng VKS phải là người chỉ đạo các hoạt động điều tra.
Tham gia vụ án ngay từ đầu
Theo luật sư Trương Trọng Nghĩa (Liên đoàn Luật sư Việt Nam), phải ghi nhận một nguyên tắc là VKS giám sát chỉ đạo quá trình điều tra ngay từ đầu. Thực tế hiện nay yếu tố này chưa đảm bảo vì VKS chỉ có quyền ban đầu là ký lệnh bắt hay không bắt, suốt quá trình điều tra sau đó diễn tiến ra sao thì VKS không hay biết. CQĐT cũng không thông báo cho VKS biết, chỉ khi có kết luận điều tra thì mới chuyển hồ sơ qua. Điều này khiến vai trò của VKS khá mờ nhạt.
Còn theo đại diện VKSND Tối cao, để thực hiện chủ trương cải cách tư pháp thì phải xây dựng một nền công tố mạnh, hiệu quả phòng chống và phát hiện tội phạm cao. Theo đó, phải khẳng định công tố là chức năng của VKS, còn hoạt động điều tra của CQĐT là bộ phận hợp thành của chức năng công tố giúp VKS đủ chứng cứ buộc tội bị can. Trong mối quan hệ này, CQĐT có nhiệm vụ hỗ trợ VKS để thực hiện các yêu cầu, quyết định tố tụng của VKS. Hoạt động điều tra là của CQĐT, VKS không can thiệp vào tác nghiệp cụ thể của điều tra viên nhưng cần có cơ chế bảo đảm mọi yêu cầu, quyết định của VKS về chứng minh tội phạm phải được thực hiện.
Về vai trò, VKSND Tối cao cho rằng VKS không chỉ đơn thuần là bên buộc tội như trong mô hình tố tụng tranh tụng mà còn đảm bảo không làm oan người vô tội, đảm bảo hoạt động của các cơ quan và người tiến hành tố tụng tuân thủ đúng quy định của pháp luật…
Sau này VKS sẽ giữ vai trò chỉ đạo trong hoạt động điều tra? Ảnh minh họa: T.TÙNG
Quản lý đầu mối thông tin

Hoàn thiện quy định về đương sự trong Bộ luật Tố tụng hình sự

21:23:00 |
1. Quy định về đương sự trong Bộ luật Tố tụng hình sự
Trong Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS), thuật ngữ đương sự được nêu trong nhiều điều luật nhưng lại không được giải thích rõ và giới hạn nó gồm những chủ thể (người tham gia tố tụng) nào. Điều này đã gây khó khăn cho việc áp dụng Bộ luật trong thực tiễn.
Những bất cập và hướng sửa đổi các quy định pháp luật về công chứng1.1. Chẳng hạn, thuật ngữ đương sự được nêu tại Khoản 3 Điều 209 (Hỏi bị cáo): “Kiểm sát viên hỏi về những tình tiết của vụ án liên quan đến việc buộc tội, gỡ tội bị cáo. Người bào chữa hỏi về những tình tiết liên quan đến việc bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự hỏi về những tình tiết liên quan đến việc bảo vệ quyền lợi của đương sự…”; Khoản 2 Điều 211 (Hỏi người làm chứng): “Khi hỏi người làm chứng, Hội đồng xét xử phải hỏi rõ về quan hệ giữa họ với bị cáo và các đương sự trong vụ án…”; Khoản 1 Điều 234 BLTTHS (Thời hạn kháng cáo, kháng nghị): “… Đối với bị cáo, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo…” và Khoản 2 Điều 245 BLTTHS (Những người tham gia phiên tòa phúc thẩm): “Người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự, người kháng cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng cáo, kháng nghị được triệu tập tham gia phiên tòa. Nếu có người vắng mặt mà có lý do chính đáng thì Hội đồng xét xử có thể vẫn tiến hành xét xử nhưng không được ra bản án hoặc quyết định không có lợi cho bị cáo hoặc đương sự vắng mặt…”.

Quyết định của viện kiểm sát trong thời gian chuẩn bị xét xử

13:07:00 |
Trong thời gian chuẩn bị xét xử, các quyết định chủ yếu do Toà án thực hiện. Tuy nhiên, để bảo đảm việc truy tố đúng người đúng tội, nên Bộ luật tố tụng hình sự cũng quy định trong thời gian chuẩn bị xét xử Viện kiểm sát cũng có thể ra một số quyết định như: Quyết định rút quyết định truy tố; quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án sau khi Toà án trả hồ sơ để điều tra bổ sung và một số quyết định khác theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong các quyết định trên, thì quyết định rút quyết định truy tố là quyết định trong thời gian chuẩn bị xét xử, còn các quyết định khác thực chất là trong giai đoạn truy tố nhưng vì có liên quan đến giai đoạn chuẩn bị xét xử, vì các quyết định này sau khi Toà án trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung. 
1. Quyết định rút quyết định truy tố
Theo quy định tại Điều 181 Bộ luật tố tụng hình sự, thì sau khi Viện kiểm sát đã chuyển hồ sơ vụ án và bản cáo trạng đến Toà án và Toà án đã thụ lý để chuẩn bị xét xử, nhưng xét thấy có một trong những căn cứ quy định tại Điều 107 của Bộ luật tố tụng hình sự hoặc có căn cứ để miễn trách nhiệm hình sự cho bị can, bị cáo theo quy định tại Điều 19, Điều 25 và khoản 2 Điều 69 của Bộ luật hình sự, thì Viện kiểm sát rút quyết định truy tố trước khi mở phiên toà và đề nghị Toà án đình chỉ vụ án.
a. Có một trong những căn cứ quy định tại Điều 107 của Bộ luật tố tụng hình sự
- Không có sự việc phạm tội
Không có sự việc phạm tội là tội phạm mà Viện kiểm sát đã truy tố đối với một hoặc một số người theo Bộ luật hình sự không xảy ra trong thực tế. Ví dụ: Nguyễn Văn A bị kết án về tội giết người theo Điều 93 Bộ luật hình sự nhưng thực tế vụ án giết người đó không có (không xảy ra) vì người được coi là bị giết vẫn sống bình thường ở một nơi khác. Đối với một số tội phạm xâm phạm đến các quan hệ sở hữu, quan hệ kinh tế, việc nhận diện tội phạm nhiều trường hợp cũng không phải dễ dàng. Ví dụ: một người bị kết án về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, nhưng thực tế không có vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, mà đó chỉ là quan hệ pháp luật dân sự. Việc xác định có sự việc phạm tội hay không chủ yếu là do công tác trinh sát, điều tra và khởi tố vụ án hình sự . Tuy nhiên, trong quá trình tố tụng các Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát cũng có thể phát hiện vụ án đã khởi tố không xảy ra và tuỳ thuộc vào giai đoạn tố tụng mà ra quyết định đình chỉ vụ án, nhưng cũng có trường hợp trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm Viện kiểm sát mới phát hiện tội phạm mà Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo không xảy ra, nên rút quyết định truy tố và đề nghị Toà án đình chỉ vụ án.
- Hành vi không cấu thành tội phạm
Khác với trường hợp không có sự việc phạm tội, trường hợp này có một người hoặc một số người thực hiện một hoặc một số hành vi, nhưng hành vi của họ không cấu thành tội phạm. Hành vi không cấu thành tội phạm có thể là hành vi vi phạm pháp luật hoặc đó là hành vi hợp pháp, nhưng do đánh giá sai tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi nên đã truy tố người thực hiện hành vi đó về một tội mà Bộ luật hình sự quy định. Sai lầm này chủ yếu là do trình độ nghiệp vụ, năng lực công tác trong việc xác định các yếu tố cấu thành tội phạm về một hành vi cụ thể đã xảy ra.
Hành vi không cấu thành tội phạm được biểu hiện ở nhiều dạng khác nhau:
- Trước hết, hành vi đó thuộc trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 8 Bộ luật hình sự "tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể". Ví dụ: Trộm cắp vài trái cây trong vườn, câu trộm vài con cá dưới ao hoặc gây thương tích cho người khác nhưng tỷ lệ thương tật một vài phần trăm và không thuộc một trang các trường hợp quy định từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều 104 Bộ luật hình sự. v.v... .
- Hành vi không cấu thành tội phạm là hành vi thiếu một trong các yếu tố cấu thành tội phạm. Khoa học luật hình sự ở nước ta cũng như các nước trên thế giới đều cho rằng tội phạm được cấu thành bởi 4 yếu tố hay nói cách khác: Bốn yếu tố cấu thành tội phạm mà các giáo trình giảng dạy ở các trường Đại học hiện nay được lưu hành. Bốn yếu tố đó là: khách thể, chủ thể, mặt khách quan và mặt chủ quan. Nếu thiếu một trong bốn yếu tố thì hành vi cũng không cấu thành tội phạm.
- Hành vi không cấu thành tội phạm là thuộc một trong các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự như: phòng về chính đáng; sự kiện bất ngờ; tình thế cấp thiết; tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự; chuẩn bị phạm tội ít nghiêm trọng; tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội. Các trường hợp trên, suy cho đến cùng thì nó cũng thuộc trường hợp thiếu yếu tố cấu thành tội phạm, nhưng vì nó là những trường hợp đặc biệt nên Bộ luật hình sự quy định thành các chế định riêng cho tiện việc nghiên cứu áp dụng.
- Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự
Theo quy định tại Điều 12 Bộ luật hình sự thì người từ đủ 14 tuổi trở lên đến chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Còn người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm.
Tuổi chịu trách nhiệm hình sự là một dấu hiệu thuộc yếu tố chủ thể của tội phạm, những người chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực chất là chưa thoả mãn các yếu tố cấu thành tội phạm và suy cho đến cùng thì hành vi của người chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự cũng là hành vi không cấu thành tội phạm, nhưng dấu hiệu không cấu thành thuộc yếu tố chủ thể và nó chỉ là dấu hiệu về tuổi của người có hành vi nguy hiểm cho xã hội. Nếu loại bỏ yếu tố này thì hành vi của họ thực sự là một tội phạm có đủ các dấu hiệu về khách thể, mặt chủ quan và khách quan. Có chủ thể của tội phạm, nhưng chủ thể chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự.
Bộ luật hình sự nước ta quy định hai độ tuổi, hai mức chịu trách nhiệm hình sự khác nhau:
Người từ đủ 14 tuổi đến chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về những tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
Thực tiễn xét xử, những sai lầm, trong việc xác định trách nhiệm hình sự đối với người chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự chủ yếu là đối với các tội vừa là tội phạm nghiêm trọng lại vừa là tội rất nghiêm trọng hoặc vừa là tội phạm nghiêm trọng vừa là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Ví dụ: Nguyễn Văn A 15 tuổi bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích theo khoản 3 Điều 104 Bộ luật hình sự vì các cơ quan tiến hành tố tụng cho rằng hành vi phạm tội của A có tính chất côn đồ và thương tật mà bị cáo gây ra cho nạn nhân là 45%. Nhưng thực tế Nguyễn Văn A cố ý gây thương tích không thuộc trường hợp có tính chất côn đồ mà chỉ thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 104 Bộ luật hình sự mà khoản 2 Điều 104 Bộ luật hình sự là tội phạm nghiêm trọng, nên Nguyễn Văn A chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Loại sai lầm này xuất phát từ sai lầm trong việc nhận thức về các dấu hiệu cấu thành tội phạm. Tuy nhiên, cũng có những trường hợp do không xác định đúng tuổi của người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nên đã truy tố người chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự như: chỉ căn cứ vào lời khai của người phạm tội và thân nhân của bị cáo về ngày tháng năm sinh, không được điều tra xác minh tuổi thật của họ hoặc căn cứ vào căn cước lý lịch của người phạm tội do Cơ quan điều tra lập, chính quyền địa phương xác nhận mà không yêu cầu xuất trình giấy khai sinh hay xác minh sổ hộ tịch ở địa phương, nên đã xác định không đúng tuổi thật của người phạm tội dẫn đến việc truy tố không đúng.
- Người mà hành vi của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật.
Việc truy tố một người có hành vi phạm tội, luật pháp nước ta cũng như các nước trên thế giới đều tuân theo nguyên tắc: Một hành vi phạm tội chỉ bị xử lý một lần. Vì vậy, khi khởi tố vụ án hình sự và suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử nếu ở giai đoạn nào phát hiện hành vi phạm tội đang bị truy cứu đã có một bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật thì các cơ quan tiến hành tố tụng không được khởi tố vụ án hình sự, không được khởi tố bị can, không được truy tố, không được đưa ra xét xử; nếu đã đưa ra xét xử thì không được kết án người đã có hành vi đó nữa. Trường hợp nếu bản án đã có hiệu lực pháp luật mà phát hiện việc kết án đó là trái pháp luật thì thì cấp giám đốc thẩm phải huỷ bản án đã có hiệu lực và đình chỉ vụ án đối với người bị kết án.

Thẩm phán ra Quyết định tạm đình chỉ và đình chỉ vụ án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm

12:49:00 |
Theo quy định tại Điều 180 Bộ luật tố tụng hình sự thì trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán được phân công chủ toạ phiên toà cũng có thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ vụ án hoặc ra quyết định đình chỉ vụ án. 

A- THẨM PHÁN RA QUYẾT ĐỊNH TẠM ĐÌNH CHỈ VỤ ÁN
Tạm đình chỉ vụ án là Thẩm phán được phân công chủ toạ phiên toà  tạm thời chưa quyết định đưa vụ án ra xét xử hoặc đã quyết định đưa vụ án ra xét xử thì tạm dừng việc mở phiên toà.
Theo quy định tại Điều 180 Bộ luật tố tụng hình sự thì Thẩm phán ra quyết định tạm đình chỉ vụ án khi có căn cứ quy định tại Điều 160 Bộ luật tố tụng hình sự. Điều 160 Bộ luật tố tụng hình sự là quy định về tạm đình chỉ điều tra nên khi áp dụng Điều 160 Bộ luật tố tụng hình sự để tạm đình chỉ vụ án, một mặt Thẩm phán phải căn cứ vào quy định của Điều 160 Bộ luật tố tụng hình sự, mặt khác phải căn cứ vào thực tế vụ án đang ở giai đoạn chuẩn bị xét xử để áp dụng cho phù hợp. Ví dụ: Điều 160 quy định trong trường hợp chưa xác định được bị can thì tạm đình chỉ điều tra, nhưng không thể có trường hợp chưa xác định được bị cáo để tạm đình chỉ vụ án được, vì khi Viện kiểm sát đã truy tố ra Toà án bằng một bản cáo trạng là đã xác định người phạm tội là ai rồi ; nếu Thẩm phán được phân công chủ toạ phiên toà lại chưa biết người bị truy tố có phải là người phạm tội hay không thì không được tạm đình chỉ vụ án mà tuỳ trường hợp Thẩm phán được phân công chủ toạ phiên toà phải ra quyết định trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung hoặc mở phiên toà xét xử ; nếu kết quả xét xử tại phiên toà cũng không đủ căn cứ xác định người bị truy tố là người phạm tội thì phải tuyên bố bị cáo không phạm tội. Như vậy, Thẩm phán tạm đình chỉ vụ án khi có các căn cứ sau:
- Bị can, bị cáo bị bệnh tâm thần và không thuộc trường hợp không có trách nhiệm hình sự hoặc bị bệnh hiểm nghèo khác có chứng nhận của hội đồng giám định pháp y. Trong trường hợp Toà án đã trưng cầu giám định tâm thần hoặc giám định pháp y, nhưng chưa có kết quả giám định mà hết thời hạn xét xử thì Thẩm phán ra quyết định tạm đình chỉ vụ án và việc giám định vẫn tiếp tục được tiến hành cho đến khi có kết quả. Sau khi có kết quả, tuỳ trường hợp mà Thẩm phán quyết định đưa vụ án ra xét xử (nếu bị cáo không mắc bệnh tâm thần) hay quyết định bắt buộc chữa bệnh (nếu bị cáo bị bệnh tâm thần) ; đối với bị cáo bị bệnh hiểm nghèo nhưng Hội đồng giám định pháp y kết luận không phải là bệnh hiểm nghèo, nhưng cần phải có thời gian điều trị, thì Thẩm phán có thể chưa huỷ bỏ quyết định tạm đình chỉ mà đợi sức khoẻ của bị cáo ổn định mới đưa vụ án ra xét xử. Nếu vụ án có nhiều bị cáo thì nên đưa vụ án ra xét xử đối với các bị cáo khác, còn có thể quyết định tạm đình chỉ đối với bị cáo tuy không phải là bệnh hiểm nghèo nhưng cần phải có thời gian điều trị theo yêu cầu của Giám định viên.
- Không biết rõ bị can, bị cáo đang ở đâu.
Trong quá trình chuẩn bị xét xử, trường hợp bị cáo không bị tạm giam, mặc dù trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát đã lấy lời khai; bị cáo đã được tống đạt kết luận điều tra, bản cáo trạng nhưng khi cần triệu tập bị cáo đến Toà án hoặc tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử thì bị cáo không còn ở nơi cư trú nữa. Trong trường hợp Thẩm phán không biết bị cáo ở đâu thì cần phải phân biệt: Nếu có căn cứ cho rằng bị cáo đã bỏ trốn thì Thẩm phán được phân công chủ toạ phiên toà cùng với việc ra quyết định tạm đình chỉ vụ án, Toà án phải yêu cầu Cơ quan điều tra ra lệnh truy nã đối với bị cáo; nếu việc vắng mặt của bị cáo có lý do chính đáng nhưng cũng không xác định được bị cáo đang ở đâu thì Thẩm phán chỉ ra quyết định tạm đình chỉ vụ án mà không cần phải yêu cầu Cơ quan điều tra ra lệnh truy nã đối với bị cáo.
Khi vận dụng các quy định tại Điều 160 Bộ luật tố tụng hình sự để quyết định tạm đình chỉ vụ án cần chú ý một số vấn đề như sau:
Đối với bị can mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm nghèo khác mà Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát chưa trưng cầu giám định pháp y thì Toà án phải trưng cầu giám định pháp y, nếu Cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát đã trưng cầu giám định pháp y nhưng Toà án thấy còn nghi ngờ về kết quả giám định đó thì Toà án phải trưng cầu giám định pháp y bổ sung hoặc giám định lại để biết kết quả, sau đó tuỳ thuộc vào kết quả giám định mà Toà án có thể quyết định tạm đình chỉ vụ án hay đưa vụ án ra xét xử. Trong trường hợp Toà án đã trưng cầu giám định mà thời hạn xét xử đã hết mà chưa có kết quả giám định thì tạm đình chỉ vụ án khi nào có kết quả giám định Toà án tiếp tục đưa vụ án ra xét xử.
Trường hợp Toà án yêu cầu Cơ quan điều tra ra lệnh truy nã, nếu truy nã không kết quả mà thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định tại Điều 176 đã hết thì Toà án mới ra quyết định tạm đình chỉ vụ án. Quy định này khác với quy định tại điểm a khoản 2 Điều 187 Bộ luật tố tụng hình sự về việc Toà án xét xử vắng mặt bị cáo trong trường hợp “bị cáo trốn tránh và việc truy nã không có kết quả”. Vì vậy, để tránh sự lầm lẫn giữa tạm đình chỉ vụ án của Thẩm phán theo quy định tại Điều 176 Bộ luật tố tụng hình sự với việc xét xử vắng mặt bị cáo quy định tại Điều 187 Bộ luật tố tụng hình sự cần phân biệt:

nhãn totunghinhsu

THÔNG TIN TỐ TỤNG HÌNH SỰ

banner

ĐÀO TẠO NGHIỆP VỤ XÉT XỬ TẠI TP. HỒ CHÍ MINH

VĂN BẢN MỚI BAN HÀNH

VĂN BẢN MỚI

TIN PHÁP ĐÌNH


THONG TIN TRANG NGHIỆP VỤ