Đang tải dữ liệu...
Thẩm Phán 13 Lớp B (thamphan13) /* Menu Horizontal top*/

Tạo banner chạy dọc hai bên

hinhlop1

hinhlop


Download Hình

Tiện ích bài đăng có ảnh thumbnail chạy ngang

MỘT SỐ VƯỚNG MẮC VỀ THẨM QUYỀN CẤP VÀ HỦY GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT CHO NGƯỜI VIỆT NAM ĐỊNH CƯ Ở NƯỚC NGOÀI THEO PHÁP LUẬT ĐẤT ĐAI HIỆN HÀNH

15:17:00 |
Thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài nhằm vừa đảm bảo áp dụng pháp luật chính xác, thống nhất, vừa đảm bảo quyền lợi chính đáng của người sử dụng đất là một bài toán thực sự không đơn giản. Do chính sách về đất đai thay đổi liên tục qua các thời kỳ, việc xác định thẩm quyền cấp và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài trong thực tiễn áp dụng Luật Đất đai gặp khá nhiều vướng mắc và mâu thuẫn. Một thực tế là người dân vẫn đang liên tục khiếu nại và chờ đợi sự giải quyết thỏa đáng của các cấp có thẩm quyền.
1. Diễn biến vụ việc: Vụ việc dưới đây là một trong những ví dụ cho tranh tụng trên.
Ngày 31/12/1963, ông Quách Đình Thành và bà Hoàng Thị Gái ký hợp đồng mua nhà và chuyển quyền sử dụng 1.620m2 đất của ông Mai Đình Diện, văn tự bán nhà có đầy đủ chữ ký của hai bên, hai bên giao kết hợp đồng hoàn toàn tự nguyên, không bị lừa dối, ép buộc. Văn tự bán nhà và chuyển quyền sử dụng đất được lập thành văn bản, có chứng thực, xác nhận của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền (Ban Tổ chức và Dân chính TP.H; Địa chính xã; chứng thực của UBND phường...”. Ông Thành và bà Gái được Ban Tổ chức và Dân chính TP.H xác nhận là “Việt kiều về nước chuyến tàu thứ 5 và được định cư ở TP.H”. Từ năm 1963 đến năm 1990, ông Thành cùng gia đình sinh sống ổn định tại mảnh đất trên. Năm 1990, ông Thành được bảo lãnh sang Pháp đoàn tụ cùng gia đình. Theo pháp luật của Pháp, ông Thành vẫn được giữ quốc tịch Việt Nam (Chính phủ Pháp thừa nhận công dân Pháp được quyền có hai quốc tịch).
Ngày 29/04/1997, ông Thành ủy quyền cho con là anh Trần Ngọc Tuấn tiếp tục hoàn thiện các thủ tục pháp lý để được cấp GCNQSDĐ. Ngày 30/04/1997, ông Thành về nước để cùng ký tên việc xác định mốc giới, ranh giới giữa gia đình ông Thành với các hộ lân cận. Ngày 02/06/1997, ông Thành làm đơn xin kê khai đăng ký quyền sử dụng đất và trích đo mặt bằng sử dụng đất. Ngày 25/06/1997, ông Thành được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số I 776034, số vào sổ 01750 ngày 25/06/1997. Thời điểm này, ông Thành chưa xin thôi quốc tịch Việt Nam.
Năm 2008, ông Thành có văn bản gửi UBND quận T, TP. H về việc xin cấp lại GCNQSDĐ với lý do GCNQSDĐ số I 776034 bị mất. Ngày 06/10/2008, trên cơ sở hồ sơ địa chính, văn tự bán nhà và chuyển quyền sử dụng đất năm 1963, trích lục sổ cấp GCNQSDĐ, UBND quận T, TP.H đã cấp lại GNCQSDĐ số AM 768980 và ra Quyết định hủy GNCQSD đất số I776034. Năm 2008, vợ chồng ông Thành ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất với vợ chồng ông Nguyễn Văn Hải và bà Bùi Thị An. Hợp đồng được lập qua công chứng, vợ chồng ông Hải đã nhận nhà đất, tiến hành đóng thuế sang tên thì có khiếu nại tranh chấp của ông Quách Đình Thiệu (là anh ruột ông Thành và đang định cư tại Pháp). Theo nội dung đơn khiếu nại, ông Thiệu khiếu kiện ông Hải về việc chiếm dụng mảnh đất hương hỏa của gia đình, ông Thiệu không đưa ra bất cứ chứng cứ nào chứng minh cho việc khiếu kiện của mình là có cơ sở ngoài việc cho rằng Ủy ban nhân dân quận T, TP.H không có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong trường hợp này.
Ngày 02/08/2010, UBND quận T, TP.H đã ra Quyết định số 1431/QĐ – UBND thu hồi, hủy bỏ Giấy chứng nhận QSD đất số AM 768980. Vấn đề đặt ra, việc UBND quận T, TP.H cấp và thu hồi GCNQSDĐ nói trên có đúng không còn tồn tại nhiều quan điểm tranh cãi liên quan đến việc áp dụng pháp luật.

Một số vấn đề về việc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

15:04:00 |
Việc thu hồi giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt là GCNQSD đất) đã cấp cho người sử dụng đất là một trong những nội dung trong lĩnh vực quản lý đất đai của cơ quan Hành chính cũng như là thẩm quyền của Tòa án nhân dân khi giải quyết các tranh chấp đất đai theo quy định của điều 32a- Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vậy việc thu hồi GCNQSD đất trong trường hợp nào thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân, trường hợp nào thuộc thẩm quyền của Uỷ ban nhân dân còn có nhiều cách hiểu, cách nhận thức khác nhau. Bởi vấn đề này được quy định trong nhiều văn bản luật đã được ban hành. Trong thời gian qua, các vụ kiện Hành chính chiếm phần lớn là việc công dân khởi kiện yêu cầu Toà án huỷ quyết định do Uỷ ban nhân dân ban hành đã quyết định thu hồi GCNQSD đất cấp cho người khác ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện. Để giải quyết loại án này, ngoài hệ thống pháp luật tố tụng hành chính cần phải áp dụng khi tiến hành quá trình tố tụng thì pháp luật nội dung phải được xem xét một cách thấu đáo khi áp dụng.
Bài viết sau đây xin được đưa ra cách tiếp cận và cùng trao đổi

Không thể kiện hành chính trong thi hành án

19:12:00 |

Trong một hội nghị rút kinh nghiệm xét xử mới đây, Tòa Hành chính TAND Tối cao nhìn nhận sau hơn một năm thi hành Luật Tố tụng hành chính đã phát sinh nhiều vấn đề cần rút kinh nghiệm cho các tòa án địa phương...

Thời gian qua nhiều tòa án địa phương thắc mắc: Hành vi, quyết định của chấp hành viên, cơ quan thi hành án (THA) dân sự có phải là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính hay không?

Đương sự không thể kiện hành chính trong các vụ việc thi hành án dân sự. Ảnh minh họa: HTD
Chỉ khiếu nại, không có quyền kiện
Về vấn đề này, Tòa Hành chính TAND Tối cao cho rằng theo quy định tại khoản 1 Điều 140 và Điều 142 Luật THA dân sự thì đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến hành vi, quyết định của chấp hành viên, cơ quan THA dân sự khi thi hành những bản án quyết định có hiệu lực của tòa thì chỉ có quyền khiếu nại đến thủ trưởng cơ quan THA dân sự. Do vậy, hành vi, quyết định của chấp hành viên, cơ quan THA dân sự không phải là đối tượng khởi kiện và không thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án bằng vụ án hành chính.

Những vấn đề cần chứng minh trong tố tụng hành chính

02:23:00 |

Cũng như trong lĩnh vực tố tụng hình sự và tố tụng dân sự, quy định về chứng minh trong hệ thống các quy định về tố tụng hành chính chiếm một vị trí quan trọng, bởi đây là những quy định thể hiện bản chất của tố tụng hành chính và tính dân chủ trong hoạt động tố tụng hành chính, là cơ sở cho mọi hoạt động tố tụng để giải quyết vụ án hành chính có hiệu quả. Các quy định về chứng minh trong tố tụng hành chính lần đầu tiên được ghi nhận trong Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1996, sửa đổi bổ sung năm 1998 và năm 2006. Các quy định này tiếp tục được pháp điển hoá trong Luật Tố tụng hành chính năm 2010, có hiệu lực từ ngày 01/7/2011. Việc pháp điển các quy định về thủ tục tố tụng nói chung và quy định về chứng minh trong Luật Tố tụng hành chính năm 2010 là hết sức cần thiết. Đây là văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực cao, điều chỉnh một cách đầy đủ, toàn diện các quan hệ tố tụng trong giải quyết khiếu kiện hành chính, đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quản lý xã hội, quản lý nhà nước bằng pháp luật, đáp ứng được yêu cầu của cải cách tư pháp và hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta và tăng cường bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân.


1. Những vấn đề cần chứng minh về mặt tố tụng
1.1. Chứng minh đủ tư cách của người khởi kiện
Điều 48, Luật Tố tụng hành chính có quy định người khởi kiện phải có năng lực chủ thể hành chính theo quy định của pháp luật tố tụng hành chính. Đó là:
- Năng lực pháp luật tố tụng hành chính là khả năng có các quyền, nghĩa vụ trong tố tụng hành chính do pháp luật quy định. Mọi cá nhân, cơ quan, tổ chức có năng lực pháp luật tố tụng hành chính như nhau trong việc yêu cầu Toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
- Năng lực hành vi tố tụng hành chính là khả năng tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng hành chính hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia tố tụng hành chính.
(i) Đối với cá nhân:
- Trường hợp đương sự là người từ đủ 18 tuổi trở lên có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng hành chính, trừ người mất năng lực hành vi dân sự hoặc pháp luật có quy định khác.
- Trường hợp đương sự là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự thực hiện quyền, nghĩa vụ của đương sự trong tố tụng hành chính thông qua người đại diện theo pháp luật.
Ví dụ: A 17 tuổi chưa có quyền khởi kiện vụ án mà phải thông qua người đại diện theo pháp luật.
(ii) Đối với tổ chức:
Đối với các tổ chức được thành lập và hoạt động trên nhiều lĩnh vực khác nhau, có tư cách pháp nhân hoặc có đủ các dấu hiệu của một tổ chức (có cơ cấu tổ chức, trụ sở, con dấu…) và phù hợp với quy định của pháp luật.
- Trường hợp đương sự là cơ quan, tổ chức thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng hành chính thông qua người đại diện theo pháp luật.
Người đại diện theo pháp luật (đại diện đương nhiên) là người đứng đầu trong cơ quan nhà nước hoặc có thể ủy quyền cho cấp phó của mình hoặc bất cứ người nào (trừ những trường hợp bị pháp luật ngăn cấm) tham gia tố tụng hành chính.

Phạm vi các loại khiếu kiện hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án

01:39:00 |

Quy định trong pháp luật tố tụng hành chính (TTHC) về phạm vi quyền KKHC của công dân, cơ quan, tổ chức là vấn đề rất quan trọng, vì trước hết và quan trọng nhất là nó thể hiện mức độ pháp luật bảo vệ công dân, cơ quan, tổ chức trước quyền lực công, đồng thời để công dân, cơ quan, tổ chức biết được mình có thể khởi kiện vụ án hành chính đối với những quyết đinh, hành vi gì của quyền lực công. Bên cạnh đó, cũng là cơ sở để Tòa án xác định đúng thẩm quyền của mình. Điều 28 “Những khiếu kiện thuộc thẩm quyềngiải quyết của Toà án” của Chương II “Thẩm quyền của Tòa án” của Luật TTHC năm 2010, có hiệu lực ngày 1/7/2011 thể hiện phạm vi này. Điều 28 quy định bốn loại khiếu kiện sau thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án: 1. Khiếu kiện quyết định hành chính(QĐHC), hành vi hành chính (HVHC); 2. Khiếu kiện về danh sách cử tri; 3. Khiếu kiệnquyết định kỷ luật buộc thôi việc công chức; 4. Khiếu kiện quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh.
       Để làm rõ phạm vi khiếu kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án, chúng ta sẽ xem xét khái niệm và phạm vi bốn loại khiếu kiện này.

Những vướng mắt khi áp dụng Luật tố tụng hành chính và Luật khiếu nại

23:50:00 |

Luật tố tụng hành chính được Quốc hội thông qua ngày 24/11/2010 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2011; Luật khiếu nại được Quốc hội thông qua ngày 11/11/2011 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2012. Việc ban hành các Luật trên với nhiều quy định mới đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho người dân thực hiện quyền khởi kiện vụ án hành chính ra Tòa án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của mình.
Tuy nhiên qua nghiên cứu hai Luật trên và Nghị quyết số 02/2011/NQ – HĐTP ngày 29/7/2011 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật tố tụng hành chính, chúng tôi thấy có những quy định cần phải hướng dẫn thống nhất để áp dụng trong thực tiễn xét xử các vụ án hành chính. Trong phạm vi bài viết này chúng tôi xin trao đổi về nội dung xem xét tính hợp pháp của “quyết định giải quyết khiếu nại có liên quan” khi tiến hành xét xử vụ kiện.

Được kiện hành chính loại quyết định nào?

23:28:00 |
Luật Đất đai năm 2003 đã sửa đổi, người dân được kiện quyết định giải quyết tranh chấp lần hai của chủ tịch UBND tỉnh.

Luật Tố tụng hành chính (TTHC) có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-2011 nhưng nhiều bạn đọc vẫn chưa rõ trường hợp nào được khởi kiện án hành chính, phải kiện sao cho có lợi… Thẩm phán Phạm Công Hùng, Tòa Phúc thẩm TAND Tối cao tại TP.HCM (ảnh), giải đáp các thắc mắc này của bạn đọc.
Tòa án giải quyết mọi khiếu kiện hành chính
. Luật TTHC không liệt kê các loại quyết định, hành vi được kiện hành chính. Do vậy, nhiều người vẫn chưa rõ loại quyết định, hành vi nào thì được kiện. Chẳng hạn, với các quyết định giải quyết tranh chấp đất đai hoặc giải quyết khiếu nại thì có kiện được hay không?

LUẬT TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH BƯỚC TIẾN QUAN TRỌNG VỀ QUY ĐỊNH CHỨNG CỨ, CHỨNG MINH TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH NĂM 2010

17:15:00 |
Nguyễn Thị Thu Hương*
Khoa Đào tạo thẩm phán - Học viện Tư pháp

Cũng như các văn bản pháp luật tố tụng hình sự và dân sự, quy định về chứng cứ, chứng minh chiếm một vị trí quan trọng trong hệ thống các quy định về tố tụng hành chính, bởi đây là những quy định thể hiện bản chất của tố tụng hành chính và tính dân chủ trong hoạt động tố tụng hành chính, là cơ sở cho mọi hoạt động tố tụng để giải quyết vụ án hành chính có hiệu quả. Nội dung của các quy định về chứng cứ, chứng minh thể hiện ý chí của nhà làm luật, dựa trên quy luật khách quan của sự phát triển xã hội và bị chi phối bởi nguyên tắc chung về chứng cứ, chứng minh. Các quy định về chứng cứ, chứng minh trong tố tụng hành chính lần đầu tiên được ghi nhận trong Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1996, sửa đổi bổ sung năm 1998 và năm 2006. Các quy định này tiếp tục được pháp điển hoá trong Luật Tố tụng hành chính năm 2010, có hiệu lực từ ngày 01/7/2011. Việc pháp điển các quy định về thủ tục tố tụng nói chung và quy định về chứng cứ, chứng minh trong Luật Tố tụng hành chính năm 2010 là hết sức cần thiết. Đây là văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực cao, điều chỉnh một cách đầy đủ, toàn diện các quan hệ tố tụng trong giải quyết khiếu kiện hành chính, đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quản lý xã hội, quản lý nhà nước bằng pháp luật và tăng cường bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân.

Thẩm quyền giải quyết vụ án hành chính của tòa án nhân dân

01:12:00 |
Tòa án nhân dân có chức năng xét xử các vụ án hành chính, thế nhưng không phải tất cả các loại việc đều có thể khởi kiện ra Tòa án theo thủ tục tố tụng hành chính, ví dụ: một công chức do có hành vi…bị kỷ luật giáng chức, không đồng ý, công chức A khởi kiện. Vậy, Tòa án có thụ lý và giải quyết đơn khởi kiện của ông A hay không? Bên cạnh đó, mỗi cấp Tòa án có thẩm quyền khác nhau khi giải quyết vụ án hành chính. Ví dụ:…Trong nội dung bài học này, chúng ta sẽ tìm hiểu thẩm quyền giải quyết vụ án hành chính của Tòa án nhân dân gồm: thẩm quyền theo loại việc, thẩm quyền theo cấp Tòa án và thẩm quyền theo lãnh thổ.
I. Thẩm quyền xét xử hành chính theo loại việc
Thẩm quyền xét xử hành chính theo loại việc: Những loại việc nào sẽ thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo thủ tục tố tụng hành chính.
Theo quy định tại Điều 28 Luật Tố tụng hành chính, những khiếu kiện sau đây sẽ thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án:
1. Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính, trừ các quyết định hành chính, hành vi hành chính thuộc phạm vi bí mật nhà nước trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao theo danh mục do Chính phủ quy định và các quyết định hành chính, hành vi hành chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức
Chủ thể quản lý nhà nước thực hiện chức năng quản lý chủ yếu thông quan quyết định hành chính, hành vi hành chính. Ví dụ: quyết định xử phạt vi phạm hành chính, quyết định cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, quyết định thu hồi đất, hành vi giải quyết việc cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, hành vi tịch thu tang vật vi phạm hành chính, hành vi khám người để ngăn chặn vi phạm hành chính…

Các nguyên tắc thu thập chứng cứ trong Luật Tố tụng hành chính

19:56:00 |
Luật Tố tụng hành chính có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2011 quy định chi tiết về chứng cứ, chứng minh và các nguyên tắc thu thập chứng cứ trong việc giải quyết các vụ án hành chính. Theo quy định tại Điều 8, Điều 9 của Luật Tố tụng hành chính thì có ba nguyên tắc về thu thập chứng cứ, cụ thể như sau:
a. Nguyên tắc quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ của đương sự
Khoản 1 Điều 8 Luật Tố tụng hành chính quy định: “Đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho Tòa án và chứng minh yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp”.
Với quy định này, việc thu thập chứng cứ là quyền và nghĩa vụ của đương sự. Việc các đương sự phải cung cấp chứng cứ và chứng minh cho yêu cầu của mình là một trong những nguyên tắc xuất phát từ quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự đối với việc khởi kiện của mình (quy định tại Điều 7 Luật Tố tụng hành chính). Khi khởi kiện vụ án hành chính để Tòa án giải quyết và khẳng định rằng việc khởi kiện là có căn cứ và đúng pháp luật, thì các đương sự trong vụ án hành chính phải tự mình thu thập, cung cấp chứng cứ, tài liệu này cho Tòa án. Đó chính là việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của đương sự.

Một số vấn đề về hoãn phiên tòa hành chính sơ thẩm

23:16:00 |

Theo quy định tại khoản 2 Điều 117 Luật tố tụng hành chính, trong thời hạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán được phân công làm chủ tọa phiên toà phải ra một trong các quyết định: Đưa vụ án ra xét xử; Tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án; Đình chỉ việc giải quyết vụ án. Như vậy, phiên toà hành chính sơ thẩm được mở sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử. Tại phiên toà, Hội đồng xét xử áp dụng các biện pháp do luật nội dung và Luật tố tụng quy định để thẩm tra, đánh giá toàn bộ chứng cứ của vụ án, nhằm đánh giá tính hợp pháp của quyết định hành chính, hành vi hành chính,…Do đó, phiên toà hành chính sơ thẩm là một thủ tục bắt buộc trong trình tự tố tụng hành chính để giải quyết vụ án khi không có lý do đình chỉ, tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án.
Trong phạm vi bài viết này, tác giả xin đề cập đến vấn đề: tại phiên toà, đương sự yêu cầu hoãn phiên toà để mời người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình, thì Hội đồng xét xử sẽ xử lý như thế nào? Có được hoãn phiên toà hay không? Căn cứ nào để hoãn phiên toà?
Các căn cứ để hoãn phiên toà đã được quy định cụ thể tại Điều 136 Luật tố tụng hành chính. Tuy nhiên, Luật chưa đề cập đến vấn đề hoãn do yêu cầu này của đương sự. Theo quy định tại khoản 13 Điều 49 Luật tố tụng hành chính, thì đương sự có quyền tự bảo vệ hoặc nhờ người khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình. Như vậy, nếu không hoãn phiên toà sẽ vi phạm quyền này của đương sự vì đương sự có quyền yêu cầu mời người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình bất kỳ giai đoạn nào của quá trình giải quyết vụ án. Thực tế hiện nay thì yêu cầu hoãn để nhờ luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp là yêu cầu chính đáng, nhưng để Hội đồng xét xử chấp thuận hoãn thì yêu cầu này của đương sự phải được thể hiện ngay đầu tiên của phiên toà, tức ở phần thủ tục, sau khi nghe Chủ toạ phiên toà giải thích quyền và nghĩa vụ. Nếu yêu cầu tại phần thủ tục hỏi hoặc tranh luận hoặc sau phần nghị án thì sẽ không được Hội đồng xét xử chấp thuận hoãn, bởi lẽ, đương sự đã được giải thích pháp luật ngay từ đầu, yêu cầu lúc này là không chính đáng và gây khó dễ cho việc giải quyết vụ án. Nhưng nếu hoãn phiên toà thì căn cứ nào để hoãn? Hiện nay còn nhiều quan điểm áp dụng pháp luật khác nhau.
Quan điểm thứ nhất cho rằng: Chủ toạ sau khi thảo luận với Hội thẩm nhân dân tuyên bố hoãn phiên toà, để đương sự thực hiện quyền nhờ người khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình, với căn cứ hoãn là áp dụng khoản 1 Điều 131 và khoản 13 Điều 49 Luật tố tụng hành chính.
Quan điểm thứ hai cho rằng: Hoãn phiên toà căn cứ vào điểm d khoản 1 Điều 136, khoản 13 Điều 49 Luật tố tụng hành chính, với lý do: Cần phải xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ bổ sung mà không thể thực hiện được ngay tại phiên toà.
Đối với quan điểm thứ nhất, biên bản phiên toà thể hiện yêu cầu hoãn của đương sự, căn cứ để hoãn phiên toà là khoản 1 Điều 131 Luật TTHC (vắng mặt người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp tại phiên toà) chưa mang tính thuyết phục. Bởi lẽ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự là người được đương sự nhờ và được Toà án chấp nhận tham gia tố tụng theo khoản 1 Điều 55 Luật TTHC và người bảo vệ phải đủ các điều kiện quy định tại khoản 2; khoản 3 Điều 55 Luật TTHC. Tại phiên toà, đương sự xin hoãn để mời luật sư mà vận dụng lý do vắng mặt người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp để hoãn phiên toà là không có căn cứ.
Đối với quan điểm thứ hai: Việc đương sự yêu cầu người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp sẽ được ghi vào biên bản phiên toà, do vậy áp dụng điểm d khoản 1 Điều 136 Luật TTHC với căn cứ hoãn là xác minh thu thập tài liệu chứng cứ bổ sung mà không thực hiện ngay tại phiên toà được. Điều này có mâu thuẫn giữa biên bản phiên toà với quyết định hoãn phiên toà của Hội đồng xét xử hay không?
Thực tế, Thẩm phán thường căn cứ vào điểm d, khoản 1 Điều 136 để hoãn phiên toà, bởi lẽ, việc áp dụng điều luật này đảm bảo an toàn. Việc thu thập, xác minh chứng cứ là thuộc Hội đồng xét xử, Do vậy, nếu áp dụng điều luật này thì đương sự sẽ không khiếu nại, luật sư sẽ không có ý kiến gì về thủ tục hoãn phiên toà.
Hiện nay, Luật tố tụng hành chính vừa mới ban hành và không quy  định hoãn phiên toà trong trường hợp này. TAND tối cao cũng chưa có hướng dẫn cụ thể nên còn vướng mắc. Đề nghị quý bạn đọc quan tâm trao đổi về nội dung này và TAND tối cao có văn bản hướng dẫn để áp dụng thống nhất pháp luật.

Về bài viết “Một số vấn đề về hoãn phiên tòa hành chính sơ thẩm”?


Ngày 22/5/2012, trong Chuyên mục “Bài viết trao đổi nghiệp vụ” trên Cổng Thông tin điện tử Toà án nhân dân tối cao có đăng bài viết “Một số vấn đề về hoãn phiên toà hành chính sơ thẩm” của tác giả Trần Đức Long, Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình. Trong bài viết của mình, tác giả Trần Đức Long đề cập tình huống: Tại phiên toà hành chính sơ thẩm, đương sự yêu cầu hoãn phiên toà để mời người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình, thì Hội đồng xét xử sẽ xử lý như thế nào? Hội đồng xét xử có được hoãn phiên toà hay không? Và nếu Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên toà thì căn cứ vào quy định nào của Luật tố tụng hành chính?
Trong bài viết của mình, tác giả Trần Đức Long cũng nêu hai quan điểm giải quyết, cụ thể:
Quan điểm thứ nhất: Chủ toạ sau khi thảo luận với Hội thẩm nhân dân, tuyên bố hoãn phiên toà để đương sự thực hiện quyền nhờ người khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình với căn cứ hoãn phiên toà là áp dụng khoản 1 Điều 131 và khoản 13 Điều 49 Luật tố tụng hành chính.
Quan điểm thứ hai: Hoãn phiên toà căn cứ vào điểm d khoản 1 Điều 136 và khoản 13 Điều 49 Luật tố tụng hành chính. Lý do: Cần phải xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ bổ sung mà không thể thực hiện được ngay tại phiên toà.
Ngoài ra, tác giải Trần Đức Long còn phân tích một số vấn đề bất cập liên quan đến việc hoãn phiên toà theo các quan điểm trên, đồng thời cho rằng trên thực tế, thẩm phán thường căn cứ vào điểm d, khoản 1 Điều 136 để hoãn phiên toà, với lý do việc áp dụng điều luật này đảm bảo an toàn, bởi việc thu thập xác minh chứng cứ là thuộc Hội đồng xét xử, Do vậy, nếu áp dụng điều luật này thì đương sự sẽ không khiếu nại, luật sư sẽ không có ý kiến gì về thủ tục hoãn phiên toà.
Về tình huống này, chúng tôi có quan điểm như sau:
Luật Tố tụng hành chính quy định rất cụ thể, chi tiết các trường hợp hoãn phiên toà. Cụ thể, căn cứ theo quy định tại Điều 136 Luật tố tụng hành chính thì có thể phân biệt các trường hợp hoãn phiên toà như sau:
- Các trường hợp Hội đồng xét xử bắt buộc phải hoãn phiên toà, bao gồm các trường hợp sau đây:
+ Trường hợp không có Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân dự khuyết để thay thế thành viên Hội đồng xét xử;
+ Trường hợp Thư ký Toà án vắng mặt hoặc không thể tiếp tục tham gia phiên toà mà không có người thay thế;
+ Trường hợp Kiểm sát viên được Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp phân công tham gia phiên toà mà vắng mặt tại phiên toà;
+ Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt; trường hợp có người vắng mặt thì Hội đồng xét xử hoãn phiên toà, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt;
+ Trường hợp người phiên dịch vắng mặt mà không có người khác thay thế;
+ Thành viên của Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, Thư ký Toà án, người phiên dịch bị thay đổi mà không có người thay thế ngay;
+ Người giám định bị thay đổi;
+ Cần phải xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ bổ sung mà không thể thực hiện được ngay tại phiên toà.
Ngoài ra, trường hợp Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt tại phiên toà, nếu vắng mặt vì sự kiện bất khả kháng thì Hội đồng xét xử cũng phải hoãn phiên toà (khoản 2 Điều 131 Luật tố tụng hành chính).
- Các trường hợp Hội đồng xét xử có thể hoãn phiên toà (không bắt buộc) bao gồm các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 133 và khoản 2 Điều 134 Luật tố tụng hành chính (bao gồm trường hợp người làm chứng hoặc người giám định vắng mặt thì Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên toà hoặc vẫn tiến hành xét xử).
Ngoài các trường hợp nêu trên, Luật tố tụng hành chính không còn quy định nào khác về trường hợp hoãn phiên toà hành chính sơ thẩm. Hiện nay cũng chưa có hướng dẫn cụ thể nào của Toà án nhân dân tối cao về vấn đề hoãn phiên toà. Chúng tôi cho rằng, trong trường hợp tại phiên toà hành chính sơ thẩm, mà đương sự xin hoãn phiên toà để mời người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp hoặc thậm chí để uỷ quyền cho người khác thay họ tham gia tố tụng tại phiên toà hành chính sơ thẩm, thì Hội đồng xét xử không được hoãn phiên toà, bởi lẽ: lý do mà đương sự nêu ra không thuộc một trong các căn cứ hoãn phiên toà nêu tại Điều 136 Luật tố tụng hành chính đã nêu ở trên.
Nghiên cứu các quy định tương ứng của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành, chúng ta thấy, tại tiểu mục 3.4 Mục 3 Phần III Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP ngày 12 tháng 5 năm 2006 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn thi hành các quy định trong phần thứ hai “Thủ tục giải quyết vụ án tại Toà án cấp sơ thẩm” của Bộ luật tố tụng dân sự” cũng hướng dẫn: “Hội đồng xét xử không được hoãn phiên toà vì lý do tại phiên toà đương sự yêu cầu hoãn phiên toà để nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự hoặc để uỷ quyền cho người khác tham gia tố tụng thay mình”.
Chúng tôi cho rằng, tự bảo vệ hoặc nhờ người khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình là quyền, nghĩa vụ của đương sự được pháp luật tố tụng nói chung và pháp luật tố tụng hành chính nói riêng ghi nhận, Tuy nhiên, quyền và nghĩa vụ này của đương sự phải phù hợp với các quy định của pháp luật và không làm cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của đương sự khác. Trước khi mở phiên toà, quyền của đương sự được mời luật sư để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoàn toàn không bị pháp luật giới hạn. Trong khoảng thời gian đó, đương sự có quyền quyết định tự mình bảo vệ hoặc nhờ người khác bảo vệ cho mình. Việc pháp luật tố tụng hành chính cũng như tố tụng dân sự không quy định Hội đồng xét xử được hoãn phiên toà khi tại phiên toà đương sự yêu cầu hoãn để mời luật sư là nhằm tránh việc đương sự nại ra các lý do không chính đáng để trì hoãn việc giải quyết vụ án.
Trong thực tiễn, nhiều Toà án đã quyết định hoãn phiên toà vào điểm d khoản 1 Điều 136 và khoản 13 Điều 49 Luật tố tụng hành chính với lý do cần phải xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ bổ sung mà không thể thực hiện được ngay tại phiên toà (như tác giả Trần Đức Long đã nêu trong bài viết của mình). Tuy nhiên, chúng tôi thấy rằng, căn cứ “cần phải xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ bổ sung mà không thể thực hiện được ngay tại phiên toà” cần phải được hiểu là căn cứ hoàn toàn khách quan. Trên cơ sở quá trình nghiên cứu hồ sơ vụ án, hỏi và tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử thấy đúng là trong vụ án cần phải xác minh, thu thập thêm tài liệu, chứng cứ bổ sung mới giải quyết được vụ án mà không thể thực hiện ngay được tại phiên toà, thì mới vận dụng căn cứ này. Đây không thể là lý do chủ quan do Hội đồng xét xử nêu ra. Như vậy, nếu đương sự xin hoãn phiên toà với lý do để mời người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp mà trong hồ sơ đã có đầy đủ tài liệu, chứng cứ để giải quyết về mặt nội dung vụ án, thì Hội đồng xét xử không thể vận dụng căn cứ tại điểm d khoản 1 Điều  136 Luật tố tụng hành chính để hoãn phiên toà được.
Còn nếu Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 131 Luật tố tụng hành chính (vắng mặt người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp tại phiên toà) để hoãn phiên toà thì cũng không đúng. Bởi lẽ, căn cứ “vắng mặt người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự tại phiên toà” cần được hiểu là trước khi mở phiên toà, đương sự đã nhờ người khác bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình và được Toà án chấp nhận tham gia tố tụng theo quy định tại khoản 1 Điều 55 Luật TTHC và mặc dù đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự vẫn vắng mặt tại phiên toà. Do đó, tại phiên toà hành chính, đương sự mới xin hoãn hoãn phiên toà để mời luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình, thì không thể coi là trường hợp vắng mặt người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp theo khoản 1 Điều 131 Luật tố tụng hành chính.
Vậy, nếu không được hoãn phiên toà, thì trong trường hợp này, Hội đồng xét xử sẽ xử lý như thế nào để đúng quy định pháp luật, đồng thời vẫn bảo đảm được quyền của đương sự về việc nhờ người khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình như quy định tại khoản 13 Điều 49 Luật tố tụng hành chính?
Theo chúng tôi, Hội đồng xét xử có thể vận dụng quy định tại khoản 2 Điều 126 Luật tố tụng hành chính để xử lý tình huống này. Cụ thể, khoản 2 Điều 126 quy định: “Trong trường hợp đặc biệt, việc xét xử có thể tạm ngừng nhưng không quá 05 ngày làm việc. Hết thời hạn tạm ngừng, việc xét xử vụ án được tiếp tục”. Quy định về tạm ngừng phiên toà được hướng dẫn cụ thể tại Điều 16 Nghị quyết số 02/2011/NQ-HĐTP ngày 29/7/2011 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật tố tụng hành chính, theo đó điểm c Điều 16 quy định: “Theo đề nghị của người khởi kiện, người bị kiện hoặc người tham gia tố tụng khác về việc dừng phiên toà và Hội đồng xét xử chấp nhận tạm ngừng phiên toà mà không thuộc trường hợp phải hoãn phiên toà theo quy định tại Điều 136 của Luật TTHC…”.
Như vậy, trường hợp tại phiên toà hành chính sơ thẩm, nếu đương sự xin hoãn phiên toà để mời người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, thì Hội đồng xét xử hoàn toàn có thể coi đây là trường hợp đặc biệt để có thể tạm ngừng phiên toà, tạo điều kiện cho đương sự mời luật sư hoặc người khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cũng cần giải thích cho đương sự biết về thời gian tạm ngừng phiên toà (05 ngày) để đương sự khẩn trương tìm và làm các thủ tục mời người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình.
Trên đây là quan điểm của chúng tôi về vấn đề xử lý của Hội đồng xét xử tại phiên toà hành chính sơ thẩm, khi đương sự yêu cầu hoãn phiên toà để mời luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Rất mong nhận được ý kiến trao đổi của quý bạn đọc.
Nguồn: Thạc sỹ: Trần Mạnh Hùng - TAND tối cao.

MỘT SỐ BẤT CẬP TRONG CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ THU HỒI ĐẤT TỪ GÓC ĐỘ VỤ CƯỠNG CHẾ THU HỒI ĐẤT Ở TIÊN LÃNG, HẢI PHÒNG

02:21:00 |
image
Quay trở lại vụ việc của ông Đoàn Văn Vươn
Thực chất của sự việc này chính là việc chính quyền huyện Tiên Lãng tiến hành cưỡng chế thu hồi đất trong khi ông Vươn đang chờ đợi quyết định giải quyết công tâm khách quan của cơ quan thứ ba là tòa án. Có thông tin cho thấy phía chính quyền địa phương đã tiến hành thương lượng với gia đình anh Vươn để anh Vươn rút đơn kiện thì sẽ tiếp tục cho thuê đất nhưng sau đó lại tiến hành cưỡng chế, thu hồi diện tích hồ ao chưa hết hợp đồng. Đây chính là sự cộng hưởng của việc áp dụng các quy định chứa đựng sự bất bình đẳng giữa người bị thu hồi đất và cơ quan thu hồi và sự thiếu công tâm trách nhiệm của cán bộ chính quyền.
Có thông tin cho rằng căn nhà hai tầng của ông Vươn bị cưỡng chế nằm ngoài diện tích đất thu hồi, nhưng vẫn bị san phẳng với lý do là nơi ẩn nấp của người chống đối. Đây là luận điểm bao biện của chính quyền huyện Tiên Lãng bởi nếu xác định căn nhà đó nằm ngoài diện tích đất thu hồi thì đó là tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng hợp pháp của công dân, được bảo vệ chống lại mọi sự xâm phạm.
Trong trường hợp khác, nếu anh Đoàn Văn Vươn cố thủ trong tòa nhà Keangnam và dùng súng bắn ra ngoài thì chính quyền cũng cho san phẳng tòa nhà hay sao?
Từ những nội dung trên thấy rằng Bộ tài nguyên môi trường cần có trách nhiệm hơn nữa đối với các văn bản soạn thảo trình chính phủ ban hành. Cần soạn thảo ra những văn bản đảm bảo yếu tố khoa học, khách quan, chuẩn xác để giữ được sự công minh, nghiêm minh của luật pháp. Nội dung văn bản soạn thảo cần lường trước điều kiện thực tế áp dụng, nếu thấy cuộc sống phản ánh không phù hợp thì cần tiếp thu sửa đổi ngay. Từ đó các cấp chính quyền như UBND huyện Tiên Lãng sẽ thấy rõ được phạm vi quyền hạn của mình để hành xử có trách nhiệm hơn.

Hoàn thiện pháp luật về các biện pháp ngăn chặn vi phạm hành chính và bảo đảm việc xử lý vi phạm hành chính

23:33:00 |

Hoàn thiện pháp luật về các biện pháp ngăn chặn vi phạm hành chính và bảo đảm việc xử lý vi phạm hành chính


Chế tài phạt vi phạm hợp đồng theo Luật thương mại năm 2005
Các biện pháp ngăn chặn vi phạm hành chính (VPHC) và bảo đảm việc xử lý vi phạm hành chính (XLVPHC) là những biện pháp được áp dụng trước khi có quyết định XLVPHC (trừ biện pháp “truy tìm đối tượng phải chấp hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh trong trường hợp bỏ trốn” được áp dụng sau khi đã có quyết định xử lý hành chính) nhằm hạn chế tối đa những hành vi vi phạm pháp luật, ngăn chặn hậu quả thiệt hại do VPHC gây ra hoặc để bảo đảm việc XLVPHC được triệt để. Các biện pháp ngăn chặn VPHC và bảo đảm XLVPHC hiện được quy định tại Pháp lệnh XLVPHC. Thực tiễn cho thấy, các quy định này có nhiều hạn chế, bất cập cần sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện, nhất là khi chúng ta đang tiến hành xây dựng Luật XLVPHC.
1. Thực tiễn áp dụng biện pháp ngăn chặn vi phạm hành chính và bảo đảm việc xử lý vi phạm hành chính
1.1. Biện pháp tạm giữ người theo thủ tục hành chính
Theo Khoản 2 Điều 44 của Pháp lệnh XLVPHC, “mọi trường hợp tạm giữ đều phải có quyết định bằng văn bản...”. Điều này trên thực tế rất khó thực hiện khi việc tạm giữ được các ngành đặc thù như kiểm lâm, bộ đội biên phòng áp dụng.
Bên cạnh đó, Pháp lệnh XLVPHC quy định thời hạn tạm giữ người theo thủ tục hành chính không quá 12 giờ là chưa thật hợp lý vì khoảng thời gian như vậy thường không đủ để xác minh các yếu tố nhân thân, lai lịch của người vi phạm cũng như kết luận hành vi vi phạm. Hơn nữa, trong nhiều trường hợp, ranh giới giữa VPHC và tội phạm hình sự có nhiều điểm rất gần nhau mà những vụ việc này lại xảy ra ở vùng sâu, vùng xa, vùng biển, biên giới, hải đảo... nơi mà điều kiện giao thông không thuận lợi hoặc một số vụ việc có yếu tố nước ngoài. Trong những tình huống như vậy, nhiều trường hợp, để đảm bảo thời gian tạm giữ, người có thẩm quyền đã phải cố tình bắt người buổi sáng nhưng đến buổi chiều mới lập biên bản vi phạm hoặc buộc phải thả người vi phạm ra ngay cả khi người vi phạm chưa có tiền nộp phạt.
Để bảo đảm quyền tự do thân thể của công dân, Pháp lệnh khống chế chặt chẽ thời hạn tạm giữ người theo thủ tục hành chính. Thời hạn tạm giữ được tính từ “thời điểm bắt đầu giữ người vi phạm”. Vì vậy, cần phải làm rõ nội dung quy định này, đó là thời điểm cơ quan chức năng phát hiện, đình chỉ, giữ và dẫn giải người vi phạm về trụ sở cơ quan, hay là tính từ thời điểm khi đưa người vi phạm về đến trụ sở cơ quan và bắt đầu ra quyết định tạm giữ?
1.2. Biện pháp tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính
Một số khó khăn, tồn tại hiện nay trong thực hiện biện pháp này là:
Thủ tục tạm giữ phương tiện VPHC theo Điều 46 Pháp lệnh chưa được đơn giản hoá nên trên thực tế, người có thẩm quyền không kịp thời tiến hành xử lý các trường hợp sai phạm. Ví dụ: để tạm giữ phương tiện thì người có thẩm quyền phải ghi ba loại giấy tờ: biên bản vi phạm, biên bản tạm giữ và quyết định tạm giữ phương tiện... Đã vậy, cơ sở vật chất, kho, bãi sử dụng cho việc tạm giữ tang vật, phương tiện còn khó khăn, chưa đáp ứng được yêu cầu (chủ yếu để ngoài trời, diện tích chật hẹp...), nên dễ làm suy giảm chất lượng của tang vật, phương tiện bị tạm giữ, vi phạm quy định của Pháp lệnh.
Trong thực tế xảy ra nhiều trường hợp đã hết thời hạn tạm giữ tang vật, nhưng người vi phạm chưa thi hành quyết định xử phạt, hoặc đối với một số vụ việc vi phạm trong lĩnh vực kinh tế, thương mại có tính chất phức tạp, hồ sơ trình UBND cấp có thẩm quyền tới 03 tháng vẫn chưa trả lại, dẫn đến tình trạng vi phạm thời hạn tạm giữ tang vật, phương tiện. Lại có những trường hợp người vi phạm sử dụng phương tiện cũ, giá trị thấp (xe ôtô thanh lý giá rẻ để vận chuyển trái phép hàng hoá khác), khi bị bắt giữ, thì bỏ luôn, không đến nhận lại và trốn tránh không thi hành quyết định xử phạt.

Xác định người bị kiện; giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại trong vụ án hành chính

16:43:00 |
Xác định người bị kiện; giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại trong vụ án hành chính
Xác định người bị kiện
Thi hành án dân sự là một trong những lĩnh vực hay phát sinh vụ án hành chính (ảnh mang tính minh họa)

Theo quy định tại khoản 7 Điều 3 của Luật TTHC thì người bị kiện là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, danh sách cử tri bị khởi kiện. Do đó, để xác định đúng người bị kiện khi nào là cá nhân, khi nào là cơ quan, tổ chức thì phải căn cứ vào quy định của pháp luật về thẩm quyền giải quyết vụ việc đó. Trường hợp có nhiều luật cùng quy định thẩm quyền ra quyết định hành chính hoặc thực hiện hành vi hành chính về một lĩnh vực quản lý thì việc xác định thẩm quyền của người bị kiện khi nào là cá nhân, khi nào là cơ quan, tổ chức phải căn cứ vào luật chuyên ngành.

Ví dụ: Có hai quyết định hành chính bị khởi kiện và hai quyết định hành chính này đều do Chủ tịch UBND cấp huyện ký (một quyết định về xử phạt vi phạm hành chính và một quyết định thu hồi đất của hộ gia đình). Căn cứ vào quy định của pháp luật về thẩm quyền giải quyết các vụ việc này thì người bị kiện trong vụ án hành chính về khiếu kiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính là cá nhân Chủ tịch UBND cấp huyện (Điều 29 Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính), còn người bị kiện trong vụ án hành chính về khiếu kiện quyết định thu hồi đất của hộ gia đình là UBND cấp huyện (Điều 44 của Luật Đất đai).

Người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 3 của Luật TTHC là người có chức vụ, chức danh cụ thể và theo quy định của pháp luật thì người có chức vụ, chức danh đó mới có thẩm quyền ra quyết định hành chính hoặc có hành vi hành chính. Trường hợp quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính do một người cụ thể ký hoặc thực hiện, nhưng người đó ký quyết định hành chính hoặc thực hiện hành vi hành chính với danh nghĩa một chức vụ, chức danh có thẩm quyền thì quyết định hành chính, hành vi hành chính đó là của người đảm nhiệm chức vụ, chức danh đó.

Ví dụ: Quyết định hành chính do ông Nguyễn Văn A ký với danh nghĩa Chủ tịch UBND huyện B thì gọi là quyết định hành chính của Chủ tịch UBND huyện B mà không gọi là quyết định hành chính của ông Nguyễn Văn A.

Giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại trong vụ án hành chính

Bàn về đối thoại trong giải quyết vụ án Hành chính

02:27:00 |
Bàn về đối thoại trong giải quyết vụ án Hành chính
-----------------------------------

Trần Đức Long

Chế tài phạt vi phạm hợp đồng theo Luật thương mại năm 2005  Luật tố tụng hành chính - thay thế cho Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1996 - có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2011, gồm 18 Chương 265 Điều, quy định nhiều nội dung mới đồng thời mở rộng quyền dân chủ và pháp chế trong hoạt động hành chính. Trong phạm vi bài viết này, tác giả xin trao đổi về đối thoại trong giải quyết vụ án hành chính.

Theo quy định tại Điều 12 Luật tố tụng hành chính (Luật TTHC): “Trong quá trình giải quyết vụ án hành chính, Toà án tạo điều kiện để các đương sự đối thoại về việc giải quyết vụ án”, quy định này thay thế cho quy định tại Điều 3 của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính: “Toà án tạo điều kiện để các bên có thể thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án”. Như vậy, do tính đặc thù của lĩnh vực hành chính với quan hệ một bên là cơ quan hành chính Nhà nước – thi hành quyền lực hành chính công và một bên là cá nhân, cơ quan, tổ chức - chịu sự điều hành quản lý, nên Luật không quy định nguyên tắc hoà giải như quá trình giải quyết các vụ việc dân sự.
Theo thuật ngữ tiếng Việt thì đối thoại có nghĩa là “ Nói chuyện qua lại giữa hai hay nhiều người với nhau hoặc bàn bạc, thương lượng trực tiếp giữa hai hay nhiều bên với nhau để giải quyết các vấn đề tranh chấp”. Ở nghĩa thứ nhất "đối thoại" được hiểu chỉ là những cuộc trao đổi miệng bình thường của hai hay nhiều người với nhau, có thể không liên quan gì đến công việc. Nhưng ở nghĩa thứ hai "đối thoại" lại là bàn bạc, thương lượng giữa hai hay nhiều bên với nhau để giải quyết các vấn đề tranh chấp. "Bên", ở đây  có thể là một người hoặc nhóm người có một hoặc một số quan điểm giống nhau, còn tranh chấp chính là những mâu thuẫn, bất hoà về quyền, lợi ích kinh tế và các lợi ích khác giữa các chủ thể tham gia quan hệ nhưng chưa được giải quyết ổn thoả.
Luật TTHC đã sửa đổi cụm từ “thoả thuận” của Pháp lệnh thành “Đối thoại” để tạo điều kiện cho các đương sự (người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan) có thể tận dụng cơ hội tự giải quyết với nhau, người khởi kiện có thể rút một phần hoặc toàn bộ nội dung đơn kiện, người bị kiện có thể sửa đổi hoặc huỷ bỏ quyết định hành chính, hành vi hành chính là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính.
 Trong bài viết này, tác giả chỉ nêu ý kiến trao đổi về “Đối thoại” trong tố tụng  hành chính. Hiện nay, còn nhiều quan điểm khác nhau về thủ tục “Đối thoại”: “Đối thoại” được coi là một thủ tục tố tụng trong giải quyết vụ án hành chính mà Toà án bắt buộc phải thực hiện, nếu thiếu thì vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và bị huỷ án hoặc “Đối thoại” không phải là thủ tục bắt buộc, chỉ khuyến khích thực hiện, nếu thiếu cũng không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án.

nhãn totunghinhsu

THÔNG TIN TỐ TỤNG HÌNH SỰ

banner

ĐÀO TẠO NGHIỆP VỤ XÉT XỬ TẠI TP. HỒ CHÍ MINH

VĂN BẢN MỚI BAN HÀNH

VĂN BẢN MỚI

TIN PHÁP ĐÌNH


THONG TIN TRANG NGHIỆP VỤ